CHƯƠNG I : TỔNG QUAN I. Tổng quan về cây ngải cứu 1. Đặc tính sinh thái [1] 1. Về tên gọi - Tên khoa học: Artemisia VulgarisL.
- Tên thường gọi: ngải diệp, nhả ngải, quá sú, cỏ linh ti … - Tên gọi khác: Mugwort (Anh), sagebrush, Wormwood, AbsinthArmoise commune (Pháp),. Về phân loại khoa học Giới : Plantae Ngành : Angiospermae Lớp : Asterids Bộ : Asterales Họ : Asteraceae Chi : Artemisia Loài : A. Đặc điểm thực vật học [1], [2] Đây là một loại cỏ sống lâu năm, có chiều cao khoảng từ 30cm đến 1.5m (thậm chí có thể cao trên 2m) với: Thân:Ngải cứu là cây thân thảo, to có rãnh dọc,thân thẳng đứng thường có màu đỏ tía. Lá:dài từ 5-20cm, mọc so le, rộng, xẻ thùy long chim, không có cuống (nhưng lá phía dưới thường có cuống), mặt trên lá có màu lục sẫm, mặt dưới màu trắng xám do có nhiều lông nhỏ.
Lá có mùi thơm nồng và có vị đắng Hoa. Mọc thành cụm ,bông hoa nhỏ (dài ~ 5 mm), hoa có màu vàng hoặc màu hồng. hoa trổ từ tháng 7 – tháng 10. 1: Các bộ phận cây ngải cứu 2 Hình 1.
2: Một số hình ảnh về cây ngải cứu Hình 1. 3: Hoa và lá cây ngải cứu 3. Nguồn gốc [1] Ngải cứu có nguồn gốc từ các vùng ôn đới ấm ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á; Vùng nhiệt đới Bắc Phi và vùng hàn đới Alaska.Ở nước ta, cây ngải cứu được trồng trên khắp các vùng miền từ Nam ra Bắc và mọc hoang ở nhiều nơi như như đồng ruộng,bề mương,lề đường. Loài cây này được trồng trên các loại đất không chứa nhiều đạm.Hầu hết các hộ gia đình trồng ngải cứu xung quanh nhà với quy mô nhỏ, chủ yếu làm rau ăn, chưa thấy trồng và thu hoạch ở quy mô lớn.
Công dụng của cây ngải cứu 4. Trong y học dân gian Loại cây này được biết đến không chỉ như một loại thực vật mà còn dùng làm thực phẩm (hầu hết là gia vị) ,dùng để làm rau ăn tốt cho cơ thể ,giúp giải nhiệt và thanh mát Còn là nguồn dược liệu. Cây ngải cứu được ví như một vị thuốc chữa được rất nhiều bệnh như: trị mụn, trị mẩn ngứa,trị cảm cúm ,ho,đau họng,đau xương khớp,giảm đau đầu và cầm máu tốt do trong ngải cứu có tính kháng viêm…Không những thế còn dùng phổ biến trong ngành châm cứu có tác dụng lưu thông mạch máu, khôi phục sức khỏe. Có tác dụng rất tốt đối với phụ nữa mang thai : giúp an thai, trị các bệnh đau bụng ra máu.Ngoài ra khi uống ngải cứu với nước ấm giúp điều hòa kinh nguyệt,không gây đau bung hay mệt mỏi.
3 Trong thành phần ngải cứu có chứa viamin B6 và vitamin C glucose, absinthine, tannin, axit malic, azulene và cadinene vì vậy giúp tăng cường đề kháng ,giảm đau hạ sốt … 4. Dược tính của ngải cứu [1] [2] Ngải cứu còn được biết đến là một loại thuốc thảo dược rất tốt.Đặc biệt là bộ phận lá cây được sử dụng với nhiều dược tính quan trọng:Giusp giảm thiếu máu, phòng chống bệnh dạ dày ,chống giun sán chống co thoắt phế quản,hỗ trợ miễn dịch và cân bằng hocmon. Ngoài ra, nghiên cứu gần đây cho thấy ngải cứu có khả năng giúp điều trị bệnh trĩ và viêm âm đạo. Trên thế giới, một nghiên cứu đã phân lập được trong lá ngải cứu hơn hai mươi flavonoid, nhiều nhất là Jaceosidine, Leuteolin, Quercetin và Eupafoline, Kaempferol.
Các chất này là những flavonoid có hoạt tính mạnh, có tác dụng chống viêm, làm giảm sự tăng sinh các tế bào gây hại. Chúng có tác dụng điều trị ung thư tiazofurin trên các tế bào ung thư biểu mô buồng trứng của người và trị ung thư carboxytriazol trên tếbào ung thư biểu mô vú. Mặc khác trong ngải cứu có thành phần tinh dầu (chủ yếu là monoterpenoid) giúp xua đuổi côn trùng và khử khuẩn rất tốt. Tuy nhiên, vì tinh dầu chứa hàm lượng thuyone đáng kể, nên dùng quá liều có thể dẫn tới ngộ độc cấp, gây nên tình trạng ảo giác, hoang tưởng… Tóm lại ngải cứu có công dụng đa năng , có giá trị rất hữu ích cho nền y học cổ truyền và y học hiện đại.
Một số chế phẩm có chiết xuất từ ngải cứu Hình 1. 4: Mặt nạ làm từ cây ngải cứu 4 Hình 1. 5: Dược phẩm hỗ trợ bổ huyết,điều kinh và nhang làm từ ngải cứu. Một số món ăn được chế biến từ lá ngải cứu Hình 1.
6: Gà hầm ngải cứu Hình 1. 7: Nước nấu ngải cứu Hình 1. 8: Cá hấp ngải cứu 5 Hình 1. 9: Cháo gà ác hầm ngải cứu 5.
Về thành phần hóa học và thành phần dinh dưỡng 5. Về thành phần hóa học [1], [2] Theo một số nghiên cứu về thành phần hóa học đã được công bố trong cây ngải cứu, có thành phần chủ yếu là flavonoid (loại trihydroxyflavone và tetra hydroxyflavone, dẫn xu ất coumarine.) và tinh dầu với hàm lượng từ 0,20 –0,34%(trong đó chiếm đến 90% là 1,8– cineole, thujonevà germacrene D (41,46%), -caryophyllene (11,94%) là 2 chất này có thể đảm bảo mùi đặc trưng của tinh dầu trong một thời gian dài hơn). [1] Dịch chiết từ thân và rễ ngải cứu chứa lactone sesquiterpen như artevulgarin và dehydromatricarin,… trong đó artevulgarin là một chất mới chưa được tìm thấy trong tự nhiên. Ngoài ra trong ngải cứu còn có hợp chất của indole, xeton, matricaria este dehydro, tetradecatrilin, tricosanol, arachyl alcol, chất màu, vulgarin, profilin, các acid amin như adenin, cholin,.
10: Cấu trúc phân tử hợp chất flavonoid Hình 1. 11: Hợp chất của cumarine 6 Hình 1. 12: Một số hợp chất trong tinh dầu cây ngải cứu [1] 5. Về thành phần dinh dưỡng trong cây ngải cứu Trong 100 g lá ngải cứu tươi thì có thành phần dinh dưỡng như sau: Thành phần Hàm lượng (g) Calories 50-60 Protein 5 Chất béo 0 Carbohydrates 8 Chất xơ 3.
1: Thành phần dinh dưỡng trong ngải cứu II. Tổng quan về viêm xương khớp 1. Định nghĩa viêm khớp Bệnh viêm khớp – tên khoa học gọi là Arthritis [1], bao gồm các rối loạn có liên quan đến cấu trúc và hoạt động của khớp. Các tế bào được kích hoạt sản sinh ra một lượng lớn nitric oxide (NO), prostaglandin E2 (PGE2) và các cytokine tiền viêm như IL-1β, IL-6, TNF-α để giúp tiêu diệt hoặc gây ức chế sự tăng trưởng của vi sinh vật xâm nhập hoặc mô ung thư trong suốt quá trình gây viêm.
Vị trí tổn thương chủ yếu là sụn khớp-sụn là mô bao bọc các đầu xương có vai trò làm giảm ma sát và đảm bảo các đầu xương có thể dễ dàng trượt lên nhau khi vận động khớp. Vì vậy khi bị viêm xương khớp làm các khớp khó chuyển động, biến dạng thậm chí các xương lệch khỏi vị trí bình thường. Các khớp thường bị viêm đó là các khớp bàn tay, cột sống, đầu gối, hông. Bệnh này thường xuất hiện ở lứa tuổi trung niên, đặc biệt từ 40 tuổi trở lên.
Tuy nhiên viêm xương khớp cũng có thể gặp ở người trẻ đặc biệt là sau các chấn thương tại khớp. Nguyên nhân gây bệnh: Có rất nhiều nguyên nhân nhưng thường gặp nhất là viêm sụn và bào mòn sụn khớp, thoái hóa khớp, nhiễm khuẩn tại khớp, chấn thương khớp do Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như do các rối loạn chuyển hóa (tăng acid uric trong bệnh gút), do hệ thống miễn dịch gây tổn thương các thành phần trong khớp ( nguyên nhân gấy ra bệnh viêm khớp dạng thấp). Triệu chứng bệnh Viêm khớp Khi vận động mạnh hoặc kể cả không vận động thì khớp vẫn sưng tấy gây cứng khớp và đau khớp dẫn đến việc khó khăn trong di chuyển, đi lại. Thỉnh thoảng sẽ nghe âm thanh lạo xạo khi cử động và gây đỏ ở vùng da tại khớp.
Các triệu chứng ngoài khớp có thể như: sốt, phát ban hoặc ngứa, khó thở, gầy sút cân… 1. Đối tượng nguy cơ bệnh Viêm khớp Viêm khớp có thể xảy ra ở hầu hết mọi lứa tuổi kể cả trẻ em nhưng tỷ lệ mắc các bệnh viêm khớp cao ở độ tuổi trung niên do ảnh hưởng của các rối loạn chuyển hóa và tích tụ các chấn thương kéo dài. Phụ nữ có tỷ lệ măc cao hơn là nam giới. Do tính chất công việc lao động nặng, tư thế ngồi lâu hoặc sai gây chấn thương tại khớp ,viêm khớp cấp tính và về lâu gây mãn tính.
Người béo phì ,thừa cân cũng gây ra bệnh viêm khớp vì bị sức ép tác động lên sụn khớp. Bị ảnh hưởng bởi các rối loạn trao đổi chất lên quá trình nuôi dưỡng các thành phần bình thường và bất thường xuất hiện trong khớp. Các bệnh hệ thống miễn dịch và một số rối loạn di truyền cũng có thể tăng nguy cơ bệnh khớp. Tìm hiểu sâu hơn và kỹ hơn về loại bệnh này thì có hai loại viêm khớp phổ biến nhất hiện nay là: thoái hóa khớp (Osteoarthritis - OA) và viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis - RA).
Nguyên nhân chính gây tàn phế trong 10 loại bệnh gây tàn phế phổ biến và chiếm tỷ lệ cao là bênh VKDT. Viêm khớp dạng thấp VKDT là một bệnh tự miễn do sự hình thành các phức hợp miễn dịch tại màng hoạt dịch khớp gây viêm tại khớp với sự hoạt hóa hàng loạt tế bào gây tăng sinh màng hoạt dịch khớp, hoạt hóa hủy cốt bào, gây phá hủy sụn khớp, đầu xương dưới sụn, dẫn đến xơ hoá, dính và biến dạng khớp. Theo thống kê ở Việt Nam chúng ta, tỉ lệ mắc VKDT chiếm khoảng 0,5 % dân số trong đó nữ giới trên 40 tuổi chiếm 70 – 80%. 13: So sánh khớp thường và VKDT Hình 1.
14: Cơ chế bệnh sinh của VKDT 2. Điều trị VKDT [1]rất khó để điều trị dứt điểm. Bệnh nhân phải kiên trì và có một sinh hoạt lành mạnh thì mới mau khỏi. Hiện nay có hai phương pháp điều trị : 9 - Hướng nội khoa: Dùng thuốc giảm đau, chống viêm nằm trong nhóm kháng viêm steroid ( NSAIDs), thuốc chống thấp khớp thay đổi được bệnh (DMARD), Thuốc tác nhân sinh học - Hướng ngoại khoa: tiến hành các phẫu thuật khi cần thiết 3.
Các phương pháp đánh giá hoạt tính kháng viêm Có rất nhiều phương pháp đánh giá hoạt tính kháng viêm nhưng chúng tôi chọn tiến hành đánh giá kháng viêm từ các chất phân lập được theo hai phương pháp: - Cho ức chế sản sinh NO: Gốc tự do •NO được sản sinh ra trong ty thể- một cơ quan hấp thụ chất dinh dưỡng để cung cấp cho tế bào. Gốc tự do này khiến cấu trúc tế bào bị hư hại, đứt gãy, mất đi chức năng khiến ty thể hoạt động nhiều hơn đẩy nhanh quá trình tổn thương tế bào gây nên viêm.