mở đầu là việc tham gia vào AFTA. Nước ta là nước có trên 70% dân số là nông nghiệp, do vậy khi bước chân vào tiến trình hội nhập, bên cạnh việc đem những tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân còn phải hiện đại hoá công nghệ sản xuất chế biến hàng nông sản. Thế nhưng, theo đánh giá của Viện Kinh tế nông nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo quản chế biến và tiêu thụ nông sản hiện đang đối đầu với thực trạng: thiếu vốn, cơ sở vật chất nghèo nàn, công nghệ chế biến lạc hậu, thiếu thông tin thị trường, đội ngũ cán bộ chưa đào tạo thích ứng với cơ chế thị trường. Những sự thiếu thốn này đã làm cho người nông dân bất an trong sản xuất.
Trong khi đó, các mặt hàng chế biến nông sản của nước ta hiện đang chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Cơ sở để đưa ra nhận định này là Viện Kinh tế nông nghiệp đã tiến hành khảo sát 60 doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực bảo quản chế biến và tiêu thụ ba loại nông sản là chè, cà phê, rau quả tại một số tỉnh. Kết quả chỉ có 2 doanh nghiệp có công nghệ chế biến hiện đại (chiếm 2,22%) còn lại là sử dụng công nghệ đã qua 3 hoặc 4 thế hệ: 73% nhà xưởng của các cơ sở chế biến rất tạm bợ, chắp vá; 40% chủ doanh nghiệp không có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề mà chủ yếu là lao động phổ thông. Hầu hết các doanh nghiệp Sinh viên: Trần Lệ Trinh – MT1801Q 11 Haiphong University KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG chưa có thị trường ổn định, hoạt động mang tính tự phát, không có chiến lược lâu dài trong kinh doanh nhất là chưa có chiến lược đầu tư cho vùng nguyên liệu và chiến lược thị trường trong và ngoài nước.
Chính vì vậy, sản phẩm làm ra của các doanh nghiệp chỉ có khoảng 5,2 đạt chất lượng quốc tế phần còn lại chất lượng không bằng mặt hàng cùng loại ở các nước trong khu vực nhưng lại có giá thành cao. Còn lại số doanh nghiệp chưa có đăng ký chất lượng sản phẩm chiếm 85- 92%, nên khó có khả năng cạnh tranh. Lâu nay, người nông dân chẳng an tâm bởi sản phẩm nông sản của họ làm ra thường bị rớt giá khi trúng mùa, chính một phần là do các doanh nghiệp chế biến không thể đáp ứng. Thông tin dự báo về thị trường nói chung là ít ỏi và thiếu chính xác, làm cho cả các công nghiệp xuất khẩu và nông dân đều chịu nhiều thiệt hại đặc biệt là với các mặt hàng xuất khẩu nhiều như gạo, điều và cà phê.
Công tác khuyến nông, phát triển vùng nguyên liệu chưa đi đôi với việc xây dựng nhà máy chế biến nông sản.Các nhà máy chế biến nông sản hiện có thì lạc hậu về thiết bị và công nghệ sản phẩm chất lượng thấp, giá thành cao. Công nghệ chế biến sau thu hoạch lạc hậu và ít phổ biến tới người dân, không được cơ quan chức năng quan tâm đúng mức đã làm trở ngại nhiều tới xuất khẩu, thiệt hại to lớn tới người nông dân và kinh tế đất nước. Nguồn gốc của yếu kém là sự bất cập ở các cơ quan nghiên cứu và quy hoạch nông nghiệp, các cơ quan có nhiệm vụ hoạch định chính sách và tham mưu cho ngành nông nghiệp.Thách thức của nông sản Việt Nam [11] Năm 2018, xuất khẩu của nông lâm thủy sản Việt Nam đạt kỷ lục với hơn 40 tỷ USD, nhưng trong 2 tháng đầu năm 2019 lại đang đối mặt với những khó khăn, sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi tại thị trường nội địa, nhiều mặt hàng đang giảm giá, đầu ra khó khăn.
Theo Bộ trưởng Bộ NN – PTNT Nguyễn Xuân Cường, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen, năm 2019 được đánh giá là năm rất khó khăn với sản xuất và tiêu thụ nông sản. Sinh viên: Trần Lệ Trinh – MT1801Q 12 Haiphong University KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG Thứ nhất, nông nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn sản xuất nhỏ, phân tán nên chưa đáp ứng được yêu cầu về sản xuất hàng hóa quy mô lớn và tiêu chuẩn cao từ thị trường quốc tế. Thứ hai, thách thức, nguy cơ từ tác động của biến đổi khí hậu, môi trường, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trong nước và tình hình cung cầu nông sản. Thứ ba, thị trường đầu ra cho nông sản gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế thế giới 2019 dự báo giảm và các nước trên thế giới đều quay lại tập trung đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nên các mặt hàng nông sản Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu.
Thứ tư, các nước nhập khẩu nông sản lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đều gia tăng bảo hộ hàng hóa nông sản thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Thứ năm, xung đột thương mại giữa Hoa Kỳ - Trung Quốc, những bất ổn xung quanh vấn đề Brexit, những bất ổn địa chính trị trên thế giới cũng ảnh hưởng tới việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, người đứng đầu Bộ NN – PTNT cho rằng, năm 2019 là năm có ý nghĩa quan trọng, bứt phá để hoàn thành Kế hoạch 5 năm 2016 – 2020 đối với ngành nông nghiệp. Đảng, Quốc hội và Chính phủ giao chỉ tiêu phát triển ngành đều cao hơn năm 2018 như: tốc độ tăng trưởng GDP trên 3%, giá trị sản xuất trên 3,11%; kim ngạch xuất khẩu trên 43 tỷ USD.
Do đó, diễn đàn ngày 5 – 3 là sự kiện để đánh giá kết quả thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản năm 2018 và bàn các giải pháp triển khai trong năm 2019. Thúc đẩy hoạt động liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị tại các vùng, địa phương trọng điểm về phát triển sản xuất nông nghiệp. Trao đổi kinh nghiệm trong nước và quốc tế trong việc triển khai các giải pháp đột phá phát triển sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản; thúc đẩy các hoạt động giao lưu, xúc tiến đầu tư, thương mại, quảng bá thương hiệu, sản phẩm nông sản giữa các địa phương, hiệp hội, doanh Sinh viên: Trần Lệ Trinh – MT1801Q 13 Haiphong University KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG nghiệp nhằm thu hút đầu tư vào phát triển sản xuất theo quy mô hàng hóa lớn gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản theo chuỗi. Để đạt được mục tiêu đề ra, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết: “Bộ sẽ tiếp tục triển khai mạnh mẽ cơ cấu lại ngành nông nghiệp.
Phát triển cơ cấu sản xuất theo 3 trục sản phẩm chủ lực: sản phẩm chủ lực quốc gia, sản phẩm chủ lực cấp tỉnh và nhóm sản phẩm là đặc sản địa phương gắn với chỉ dẫn địa lý”. Bộ NN – PTNT cũng cam kết sẽ tiếp tục đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, xây dựng các vùng nguyên liệu sản xuất tập trung, đẩy mạnh liên kết phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã. Thu hút đầu tư doanh nghiệp tư nhân, xây dựng các mô hình theo chuỗi, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện ích, các chợ. để thúc đẩy tiêu thụ trong nước.
Nâng cao năng lực chế biến nông sản, bảo quản, đóng gói, bao bì, nhãn mác để nâng cao giá trị sản phẩm.Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học – công nghệ, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ là những giải pháp quan trọng. Phải xử lý nghiêm các hành vi gian lận, ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa nông sản, nhằm giữ uy tín cho hàng hóa nông sản của Việt Nam cả thị thị trường trong nước và quốc tế.Nông sản Việt Nam với xu hướng hội nhập quốc tế [10] Hội nhập quốc tế đã giúp thị trường tiêu thụ nông lâm thủy sản được mở rộng với trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu vượt 40 tỷ USD Sinh viên: Trần Lệ Trinh – MT1801Q 14 Haiphong University KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG Hình 1.1: Chế biến rau quả phục vụ xuất khẩu Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các hiệp định thương mại tự do, thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam tiếp tục được mở rộng. Điều này được thể hiện rõ qua kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản luôn tăng khá, đặc biệt trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu, ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng xuất khẩu ổn định, là trụ đỡ cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại, Việt Nam đã tăng cường xuất khẩu các sản phẩm nông sản có lợi thế cạnh tranh.
Hoạt động hội nhập quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp đã tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất nông sản trong nước, cải thiện đời sống nông dân và phát triển mối quan hệ đa phương, hiệu quả với nhiều quốc gia trên thế giới. Nhờ vậy, thị trường tiêu thụ nông lâm thủy sản được mở rộng với trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu vượt 40 tỷ USD. Hội nhập kinh tế đã giúp nông sản Việt Nam vượt qua rào cản thuế quan, nhất là đối với những nông sản mà Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu như gạo, thủy sản, đồ gỗ. Việc gia nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới cũng giúp Việt Nam tiếp cận với nguồn nguyên liệu ổn định hơn cho sản xuất, có chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh, thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất để xuất khẩu.
Điển hình với Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), những cơ hội có thể nhìn thấy ngay dựa trên dữ liệu thương Sinh viên: Trần Lệ Trinh – MT1801Q 15 Haiphong University KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG mại là mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng cường tiếp cận các thị trường lớn nhất thế giới với ưu thế đáng kể. Hiệp định còn tạo động lực và sức ép cho doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất trong nước theo hướng giảm xuất khẩu nguyên liệu và sơ chế, đầu tư phát triển chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, tăng cường xuất khẩu sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao.