Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài và mục tiêu nghiên cứu, chương 2 tác giả sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết, khái niệm quan trọng dùng trong nghiên cứu và phát biểu giả thuyết. Qua đó, đề xuất mô hình nghiên cứu.1 Các lý thuyết và khái niệm nghiên cứu 2.1 Hệ thống thông tin 2.1 Tổng quan về Hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là sự kết hợp của phần mềm, phần cứng và mạng viễn thông để thu thập (hoặc truy xuất) dữ liệu, xử lý, lưu trữ và phân phối thông tin để hỗ trợ việc ra quyết định và kiểm soát trong một tổ chức [4]. Các loại hệ thống thông tin tồn tại khác nhau: ESS (hệ thống hỗ trợ điều hành), MIS (hệ thống thông tin quản lý), DSS (hệ thống hỗ trợ quyết định), KMS (hệ thống quản lý tri thức), TPS (hệ thống xử lý giao dịch) và OAS (hệ thống tự động hóa văn phòng). Những HTTT này được liên kết với các nhóm người khác nhau trong một tổ chức.
Các loại hệ thống thông tin phổ biến nhất trong một tổ chức được minh họa trong Hình 1. Giám đốc điều hành Hệ thống điều hành Quản lý cấp cao Hệ thống Hệ hỗ trợhỗ thống ra trợ ra quyết định quyết định Quản lý cấp trung Hệ thống thông tin quản lý Nhân viên Hệ thống xử lý giao dịch Hình 2.1 Mô hình kim tự tháp bốn cấp gồm các loại hệ thống thông tin khác nhau (Eoromed Marseille Scholl of Management, 2010) 2.2 Tổng quan về Hệ thống thông tin bệnh viện (HIS) 8 Hệ thống thông tin bệnh viện (Hospital Information System, HIS) đã được công nhận là một nhánh quan trọng của tin học y tế (MedicalInformatics) mới nổi trong giới học thuật quốc tế. Morris Collen, một giáo sư người Mỹ nổi tiếng trong lĩnh vực này, đã có nhiều bài báo và sách nói về hệ thống thông tin bệnh viện để định nghĩa hệ thống thông tin bệnh viện như sau: Sử dụng máy tính điện tử và thiết bị truyền thông để cung cấp việc thu thập, lưu trữ, xử lý thông tin chẩn đoán và điều trị bệnh nhân và thông tin quản lý hành chính cho tất cả các khoa của bệnh viện, Khả năng trích xuất và trao đổi dữ liệu, và đáp ứng các yêu cầu chức năng của tất cả người dùng được ủy quyền [6]. “Hệ thống Thông tin Bệnh viện (HIS) là một hệ thống thông tin tích hợp cung cấp các yêu cầu thông tin của bệnh viện cho các hoạt động hàng ngày như lập kế hoạch và chăm sóc bệnh nhân” (Moghaddasi, 2018).
HIS quản lý hoạt động của bệnh viện bao gồm các hoạt động y tế, lâm sàng, tài chính và hành chính (Pai và Huang, 2011). Đối với hệ thống thông tin HIS tại Việt Nam, lần đầu tiên bệnh nhân sẽ được cấp một mã riêng thăm bệnh viện. Các phương pháp tiếp cận khác nhau trong quá trình chăm sóc sức khỏe lâm sàng của bệnh nhân như xét nghiệm, chụp X-quang, chẩn đoán hình ảnh, điều trị, cấp phát thuốc, thanh toán và hoàn trả sau đó sẽ được vận hành tương ứng tại hệ thống thông tin phòng thí nghiệm (LIS), hệ thống thông tin X quang (RIS), hệ thống thông tin liên lạc (PACS), hệ thống bệnh án điện tử (EMR), hệ thống thông tin dược, hệ thống thông tin tài chính và hệ thống thông tin bảo hiểm y tế. Nhân viên bệnh viện bao gồm các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và những người không phải là chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể làm việc với HIS.
Hệ thống thông tin bệnh viện đề cập đến thành phần của công nghệ thông tin trong lĩnh vực y tế tập trung phần lớn vào các nhu cầu hành chính, tài chính và lâm sàng của bệnh viện. Các hệ thống này tăng cường khả năng điều phối chăm sóc của các chuyên gia y tế bằng cách cung cấp thông tin sức khỏe của bệnh nhân và lịch sử thăm khám tại địa điểm và thời gian cần thiết. Vì vậy, HIS được thiết kế để quản lý bệnh nhân và thông tin liên quan của họ một cách tập trung thông qua xử lý dữ liệu điện tử và dự đoán tình trạng sức khỏe trong môi trường bệnh viện. Sơ đồ quản lý bệnh viện (HIS) Nguồn: Morris Frank Collen, 1976 Trong khi các chuyên gia chăm sóc sức khỏe là bác sĩ, dược sĩ, y tá và kỹ thuật viên, thì những người không chuyên về chăm sóc sức khỏe là nhân viên tại các bộ phận tài chính, nhân sự, CNTT và hành chính.
Họ biết rõ rằng họ sẽ làm việc trên các hệ thống tích hợp bên trong bệnh viện. Họ sẽ có quyền truy cập vào các hệ thống được cho phép trong phạm vi công việc của họ. Ví dụ, họ có thể thêm thông tin bệnh nhân do mình phụ trách hoặc xem thông tin bệnh nhân trong phòng thí nghiệm, thông tin bệnh nhân X quang hoặc thông tin điều trị nhờ tích hợp hệ thống LIS, RIS, PACS, EMR và /hoặc PIS. Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu của Bộ Y tế đã thiết kế phần mềm Medisoft 2003 được biết đến là phần mềm HIS được triển khai tại nhiều bệnh viện Việt Nam cho đến nay.
Hệ thống thông tin bệnh viện gồm các thành phần: Hệ thống lưu trữ và truyền thông hình ảnh (PACS): PACS là công nghệ hình ảnh y tế cung cấp khả năng lưu trữ tiết kiệm và truy cập thuận tiện vào hình ảnh từ nhiều phương thức (loại máy nguồn). Các hình ảnh và báo cáo điện tử được truyền kỹ thuật số qua PACS; điều này giúp loại bỏ nhu cầu khai thác, truy xuất hoặc vận chuyển áo phim theo cách thủ công. Định dạng phổ biến để lưu trữ và truyền hình ảnh PACS là DICOM (Hình ảnh Kỹ thuật số và Truyền thông trong Y học). Một 10 PACS bao gồm bốn thành phần chính: Các phương thức hình ảnh như phim X-quang trơn (PF) , chụp cắt lớp vi tính (CT) và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), một mạng an toàn để truyền thông tin bệnh nhân, các máy trạm để giải thích và xem xét hình ảnh và tài liệu lưu trữ để lưu trữ và truy xuất hình ảnh và báo cáo.
Hệ thống thông tin X quang (RIS) - Các hệ thống này cũng phổ biến nhờ khả năng cung cấp dịch vụ thanh toán X quang, lập lịch hẹn cũng như báo cáo và lưu trữ cơ sở dữ liệu bệnh nhân. Hệ thống thông tin lâm sàng (CIS): Hệ thống thông tin lâm sàng là một hệ thống dựa trên máy tính được thiết kế để thu thập, lưu trữ, thao tác và cung cấp thông tin lâm sàng quan trọng cho quá trình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Hệ thống Thông tin Lâm sàng giúp các tổ chức chăm sóc sức khỏe cải thiện việc cung cấp các dịch vụ lâm sàng. Hệ thống thông tin bệnh viện cung cấp thông tin và báo cáo lâm sàng cho phép bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định sáng suốt hơn tại điểm chăm sóc.
Hệ thống thông tin điều dưỡng (NIS): Các hệ thống thông tin dựa trên máy tính này được thiết kế để giúp các y tá chăm sóc bệnh nhân tốt hơn. Một NIS tốt có thể thực hiện một số chức năng và mang lại lợi ích như cải thiện lịch trình của nhân viên, lập biểu đồ bệnh nhân chính xác và cải thiện tích hợp dữ liệu lâm sàng. Bộ phận điều dưỡng có thể có một lực lượng lao động được quản lý tốt hơn thông qua các ứng dụng lịch trình cho phép người quản lý giải quyết việc nghỉ học và làm thêm giờ. Các ứng dụng biểu đồ bệnh nhân cho phép người dùng nhập các chi tiết liên quan đến các dấu hiệu quan trọng của bệnh nhân.
Các y tá cũng sử dụng nó để biết thông tin nhập viện, kế hoạch chăm sóc và tất cả các ghi chú điều dưỡng có liên quan. Tất cả dữ liệu quan trọng được lưu trữ an toàn và có thể được truy xuất khi cần thiết. Tích hợp dữ liệu lâm sàng cũng rất hữu ích, cho phép y tá thu thập, truy xuất và phân tích thông tin lâm sàng, sau đó tích hợp nó để thiết kế kế hoạch chăm sóc bệnh nhân. Tất cả các tính năng này trong NIS cuối cùng dẫn đến việc giảm thời gian lập kế hoạch và đánh giá và đánh giá tốt hơn.
Cơ hội kê đơn thuốc sai cũng giảm vì luôn có tài liệu tham khảo cho các loại thuốc được kê đơn điện tử. 11 Hệ thống Thông tin Dược phẩm (PIS) - Được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khoa dược, PIS giúp các dược sĩ giám sát cách thức sử dụng thuốc trong bệnh viện. PIS giúp người dùng giám sát dị ứng thuốc và các biến chứng liên quan đến thuốc khác. Hệ thống cho phép người dùng phát hiện các tương tác thuốc và cũng giúp quản lý các loại thuốc phù hợp dựa trên các yếu tố sinh lý của bệnh nhân.
Hệ thống thông tin tài chính (FIS): Hệ thống thông tin tài chính là hệ thống máy tính quản lý khía cạnh kinh doanh của bệnh viện. Trong khi ưu tiên hàng đầu của tổ chức chăm sóc sức khỏe là cứu mạng sống và không tạo ra lợi nhuận, họ thu được chi phí vận hành từ các hoạt động hàng ngày; bao gồm mua hàng và trả lương nhân viên. Hệ thống thông tin phòng thí nghiệm (LIS): Hệ thống quản lý thông tin phòng thí nghiệm (LIMS), đôi khi được gọi là Hệ thống thông tin phòng thí nghiệm (LIS) hoặc Hệ thống quản lý phòng thí nghiệm (LMS), là hệ thống quản lý thông tin và phòng thí nghiệm dựa trên phần mềm cung cấp một bộ các tính năng chính hỗ trợ hoạt động của phòng thí nghiệm hiện đại.2 Tính tương thích công việc được cảm nhận (perceived work compatibility) Theo (Yuan Sun, 2009) khả năng tương thích công việc của người dùng hệ thống ERP hoàn toàn là sự phù hợp của công nghệ thông tin với công việc của tổ chức chứ không phải sở thích cá nhân hoặc thói quen làm việc. Các tổ chức triển khai CNTT để tạo thuận lợi cho công việc của tổ chức hơn là để phù hợp với sở thích hoặc thói quen cá nhân của người dùng.
Khả năng tương tích trong công việc chủ yếu là một cấu trúc mang tính cảm tính vì chính nhận thức về sự phù hợp giữa CNTT và công việc sẽ thúc đẩy nhân viên sử dụng hệ thống, bất kể mức độ phù hợp thực tế.3 Lý thuyết nhận thức xã hội (social cognitive theory) Theo lý thuyết nhận thức xã hội (Bandura, 1977) thì hành vi của một cá nhân có thể được điều chỉnh bằng cách kiểm soát cảm nhận của người đó.