Tổng quan nghiên cứu

Hạn hán tại khu vực Tây Nguyên đang ngày càng diễn biến phức tạp dưới áp lực của biến đổi khí hậu toàn cầu. Điển hình trong đợt hạn hán lịch sử năm 2015 - 2016, toàn tỉnh Gia Lai đã ghi nhận 30.556,1 ha cây trồng bị khô hạn và 9.164 hộ gia đình rơi vào cảnh thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự phân hóa sâu sắc của lượng mưa cùng với tốc độ bốc thoát hơi nước gia tăng, làm gia tăng nhanh chóng các đợt hạn khí tượng và chuyển hóa thành hạn nông nghiệp trên diện rộng.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích quy luật diễn biến, xác định xu thế biến đổi của tình trạng khô hạn trong chuỗi thời gian dài 37 năm (giai đoạn 1980 - 2016) trên địa bàn tỉnh Gia Lai, thông qua việc tính toán và đối chiếu đồng thời Chỉ số chuẩn hóa giáng thủy SPI cùng Chỉ số khô hạn K. Trên cơ sở đó, công trình tiến hành lượng hóa mức độ rủi ro, phân tích tương quan giữa các cấp độ hạn đối với diện tích, sản lượng và năng suất của các loại cây trồng chủ lực như lúa nước, ngô, cà phê và hồ tiêu.

Phạm vi không gian nghiên cứu bao phủ toàn bộ tỉnh Gia Lai với 3 vùng sinh thái đại diện qua các trạm quan trắc Pleiku, An Khê và Ayunpa. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện rõ nét qua việc cung cấp luận cứ khoa học định lượng giúp các cơ quan quản lý kiểm soát thiệt hại kinh tế, vốn đã từng chạm mức 841,24 tỷ đồng trong năm 2015. Kết quả này trực tiếp hỗ trợ công tác dự báo sớm và thiết lập các kế hoạch thích ứng dài hạn cho nền kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết phân loại hạn hán bốn cấp độ do Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) ban hành, bao gồm: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thủy văn và hạn kinh tế - xã hội. Trong đó, hạn khí tượng là sự mất cân bằng giữa lượng mưa nhận được và lượng bốc thoát hơi nước; khi thiếu hụt độ ẩm đất kéo dài sẽ dẫn đến hạn nông nghiệp, trực tiếp gây ra hạn sinh lý ở thực vật. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết cân bằng ẩm - nhiệt của Budyko và Thornthwaite để phân tích động lực bốc hơi tiềm năng.

Các khái niệm chính được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm:

  • Chỉ số chuẩn hóa giáng thủy (SPI): Phản ánh độ lệch chuẩn của lượng mưa thực tế so với phân bố mưa nhiều năm tại một khu vực nhất định.
  • Chỉ số khô hạn (K): Tỷ số giữa lượng bốc hơi tiềm năng và lượng mưa tích lũy ($K = E/R$), thể hiện cán cân chi - thu nước của bề mặt đệm.
  • Hiện tượng ENSO và dao động El Nino: Tác nhân hoàn lưu khí quyển quy mô lớn gây suy giảm lượng mưa cục bộ và kéo dài thời kỳ gió mùa Đông Bắc khô hạn tại các vùng nhiệt đới gió mùa cao nguyên.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng chuỗi số liệu quan trắc khí tượng bề mặt liên tục trong 37 năm (1980 - 2016) thu thập từ Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia tại 3 trạm chuẩn: Trạm An Khê (kinh độ 108,95°Đ), Trạm Ayunpa (kinh độ 108,42°Đ) và Trạm Pleiku (kinh độ 108,01°Đ). Cỡ mẫu khí tượng gồm 444 tháng quan trắc đối với mỗi biến số nhiệt độ, lượng mưa và lượng bốc hơi. Số liệu nông nghiệp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005 - 2016 trên tổng diện tích gieo trồng trung bình trên 500.000 ha mỗi năm.

Phương pháp phân tích bao gồm:

  • Mô hình hóa xác suất Gamma để chuyển đổi chuỗi số liệu mưa sang biến ngẫu nhiên chuẩn hóa nhằm xác định giá trị SPI cho các quy mô thời gian năm, mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông Bắc.
  • Thuật toán cân bằng nhiệt ẩm tính toán chỉ số K theo từng tháng và từng năm. Lý do lựa chọn song song hai phương pháp này là vì SPI có thế mạnh trong việc phát hiện dị thường lượng mưa theo chuẩn quốc tế, trong khi chỉ số K phản ánh chính xác tác động bốc hơi dưới nền nhiệt độ cao đặc trưng của địa hình lòng chảo và cao nguyên Tây Nguyên.
  • Phương pháp phân tích hồi quy, tương quan tuyến tính Pearson nhằm đánh giá mối liên hệ định lượng giữa các chỉ số hạn với biến động năng suất cây trồng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tính toán chỉ số hạn cho thấy sự phân hóa không gian cực kỳ rõ rệt giữa các vùng sinh thái trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Trạm Ayunpa có cường độ và tần suất khô hạn cao nhất toàn tỉnh với chỉ số K trung bình năm thường xuyên duy trì ở ngưỡng khô và rất khô ($K > 4,0$), đặc biệt vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc khi lượng mưa giảm xuống dưới 20% tổng lượng mưa cả năm. Ngược lại, trạm Pleiku có lượng mưa dồi dào hơn nhưng lại xuất hiện các đợt hạn hán đột ngột với chỉ số SPI giảm sâu dưới mức -2,0 (cấp hạn cực nặng).

Thứ hai, tần suất xuất hiện hạn hán quy mô lớn có sự trùng khớp chặt chẽ với các năm xuất hiện hiện tượng El Nino mạnh. Cụ thể, các đợt hạn khốc liệt nhất được ghi nhận vào các giai đoạn 1997 - 1998, 2004 - 2005, 2010 - 2011 và 2015 - 2016. Trong đợt hạn năm 2011, toàn tỉnh có 17.929,0 ha cây trồng bị thiệt hại với tổng giá trị 263,5 tỷ đồng (riêng cà phê thiệt hại 206,1 tỷ đồng). Đến đợt hạn năm 2016, diện tích cây trồng bị ảnh hưởng tăng vọt lên 30.556,1 ha, làm 10.573,3 ha cà phê và 2.076,9 ha hồ tiêu bị suy giảm năng suất nghiêm trọng.

Thứ ba, mức độ tổn thương của các nhóm cây trồng có sự khác biệt lớn về mặt tỷ lệ. Cây lúa nước là đối tượng mẫn cảm nhất với tỷ lệ mất trắng lên tới 66,16% diện tích bị hạn trong vụ Đông Xuân 2015 - 2016 (4.121,1 ha mất trắng trên 6.229,7 ha bị hạn). Đối với nhóm cây công nghiệp lâu năm, mặc dù tỷ lệ mất trắng thấp hơn (cà phê mất trắng 855,3 ha, hồ tiêu mất trắng 308,7 ha), nhưng diện tích bị suy giảm năng suất từ 30% đến 70% lại chiếm tỷ trọng áp đảo, làm suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập chính của nông hộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng khô hạn gay gắt bắt nguồn từ sự kết hợp giữa biến đổi hoàn lưu khí quyển và đặc điểm địa hình sườn khuất gió của dãy Trường Sơn. Khu vực Ayunpa nằm trọn trong thung lũng sông Ba, nơi có nhiệt độ tích lũy hàng năm cao và lượng mưa hàng năm dưới 1.200 mm, tạo ra hiệu ứng bốc hơi cục bộ cực lớn. Bên cạnh yếu tố khí hậu, sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên từ 726.137 ha năm 2006 xuống còn 555.807 ha vào năm 2015 (giảm 170.330 ha) đã làm mất đi lớp thảm phủ bảo vệ tự nhiên, triệt tiêu khả năng giữ nước ngầm trong mùa khô.

Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây về kịch bản biến đổi khí hậu vùng Tây Nguyên của nhóm tác giả Nguyễn Lập Dân, kết quả tính toán của luận văn cho thấy cấp hạn thực tế tại Ayunpa đã sớm đạt cấp 5,1 tương đương dự báo cho năm 2020. Về phương diện biểu diễn dữ liệu, diễn biến của chỉ số SPI và chỉ số K được trực quan hóa thông qua đồ thị chuỗi thời gian nhiều năm kết hợp biểu đồ phân bố tần suất hạn theo mùa. Ma trận tương quan Pearson giữa chỉ số K và năng suất cây trồng chỉ ra hệ số tương quan âm có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$), chứng minh rằng chỉ số K là công cụ chỉ thị có độ nhạy cao trong việc cảnh báo suy giảm năng suất lúa và cà phê.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuyển đổi linh hoạt cơ cấu cây trồng và mùa vụ canh tác. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Gia Lai cần chủ trì rà soát, cắt giảm tối thiểu 15% - 20% diện tích lúa nước bấp bênh tại các vùng trũng khô hạn như Krông Pa, Ayun Pa và Ia Pa để chuyển sang trồng ngô lai, cỏ chăn nuôi hoặc các loại đậu đỗ tiết kiệm nước, hoàn thành kế hoạch tái cơ cấu trước năm 2025.

Thứ hai, nâng cấp và điều tiết tối ưu hệ thống công trình thủy lợi liên hồ chứa. Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Gia Lai phối hợp với các nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Ba và sông Sê San xây dựng quy trình vận hành xả nước điều tiết mùa kiệt, đảm bảo cấp nước ổn định cho 9.500 ha lúa và hoa màu thuộc hệ thống hồ Ayun Hạ và các vùng lân cận trong giai đoạn 2023 - 2027.

Thứ ba, mở rộng diện tích ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến, tưới tiết kiệm nước. Đẩy mạnh hỗ trợ kỹ thuật và vốn vay ưu đãi để các hợp tác xã, hộ nông dân tại Đak Đoa, Chư Prông và Ia Grai lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới phun sương kết hợp bón phân tự động cho 100% diện tích cà phê và hồ tiêu chuyên canh, đặt mục tiêu tiết kiệm từ 35% đến 40% lượng nước tưới/ha trước năm 2028.

Thứ tư, phục hồi và bảo vệ nghiêm ngặt vốn rừng tự nhiên phòng hộ đầu nguồn. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai cùng các Ban Quản lý rừng phòng hộ tập trung đẩy mạnh giao đất giao rừng, ngăn chặn nạn đốt nương làm rẫy, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh thêm 3% - 5% trong giai đoạn 2025 - 2030 nhằm bảo tồn nguồn sinh thủy và giữ ẩm bề mặt đất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nông nghiệp (Sở Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Trồng trọt & BVTV): Khai thác dữ liệu phân vùng mức độ khô hạn theo từng huyện để xây dựng đề án thích ứng biến đổi khí hậu và phân bổ ngân sách cứu trợ thiên tai chính xác.
  • Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Khí tượng học: Tiếp cận phương pháp tích hợp chỉ số SPI và chỉ số K trên chuỗi dữ liệu 37 năm, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu mô hình hóa hạn hán tại các vùng cao nguyên nhiệt đới.
  • Doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản và các Hợp tác xã tại Tây Nguyên: Ứng dụng quy luật thời vụ và phân tích rủi ro năng suất để xây dựng kế hoạch bao tiêu sản phẩm, bố trí vùng nguyên liệu cà phê, hồ tiêu bền vững.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Sử dụng bức tranh thực trạng về thiệt hại sinh kế và tình trạng thiếu nước sinh hoạt (hơn 9.164 hộ gia đình bị ảnh hưởng) để thiết kế các dự án viện trợ cấp nước sạch và tăng cường khả năng chống chịu cho cộng đồng yếu thế.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số SPI và chỉ số khô hạn K khác nhau như thế nào trong đánh giá hạn hán tại Gia Lai? Chỉ số SPI thuần túy đo lường sự thiếu hụt lượng mưa dựa trên phân bố chuẩn hóa xác suất Gamma, thích hợp cho việc phát hiện sớm hạn khí tượng. Trong khi đó, chỉ số K tính toán cân bằng giữa bốc hơi tiềm năng và lượng mưa ($E/R$), phản ánh chính xác hơn điều kiện khô hạn bề mặt tại Gia Lai do chịu ảnh hưởng lớn từ nền nhiệt độ cao.

Khu vực nào tại tỉnh Gia Lai chịu tác động của hạn hán khốc liệt nhất? Khu vực lòng chảo thung lũng sông Ba bao gồm thị xã Ayun Pa và huyện Krông Pa chịu ảnh hưởng khô hạn nặng nề nhất. Tại đây, lượng mưa trung bình năm thấp dưới 1.200 mm trong khi bức xạ mặt trời lớn, khiến chỉ số K vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc liên tục vượt ngưỡng 4,0, gây thiếu nước trên 2.185 hộ dân tại Krông Pa năm 2016.

Hiện tượng El Nino tác động cụ thể ra sao đến tình hình hạn hán tại địa phương? Các đợt El Nino mạnh làm dịch chuyển hoàn lưu khí quyển, làm chậm thời gian bắt đầu mùa mưa và rút ngắn tổng lượng mưa cả năm từ 30% đến 40%. Điều này trực tiếp gây ra các đợt hạn hán khốc liệt trên diện rộng vào các năm 1998, 2011 và 2016, kéo theo thiệt hại hàng trăm tỷ đồng cho ngành nông nghiệp.

Sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên có làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của hạn hán không? Có. Việc diện tích rừng tự nhiên tại Gia Lai sụt giảm từ 726.137 ha năm 2006 xuống 555.807 ha năm 2015 đã phá vỡ cấu trúc thảm phủ giữ nước. Hệ quả là dòng chảy mặt trong mùa khô cạn kiệt nhanh chóng, mực nước ngầm suy giảm sâu khiến các hồ đập thủy lợi mất nguồn bổ cập tự nhiên.

Ngành trồng trọt Gia Lai cần ưu tiên giải pháp kỹ thuật nào để thích ứng lâu dài? Giải pháp cấp bách hàng đầu là ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cục bộ (tưới nhỏ giọt ngầm hoặc phun mưa dưới gốc) cho cây cà phê, hồ tiêu, giúp cắt giảm 35% - 40% lượng nước tiêu thụ. Song song đó là việc chuyển đổi vụ Đông Xuân bấp bênh sang cây trồng cạn có chu kỳ sinh trưởng ngắn.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện chuỗi dữ liệu khí tượng 37 năm (1980 - 2016), xác định rõ quy luật biến động và sự phân hóa không gian sâu sắc của hạn hán tại 3 tiểu vùng trạm Pleiku, An Khê và Ayunpa.
  • Khẳng định mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa các cấp độ khô hạn (đặc biệt qua chỉ số K) với năng suất cây trồng chủ lực, lượng hóa thiệt hại thực tế trên hơn 30.556,1 ha cây trồng trong đợt hạn cực đoan 2015 - 2016.
  • Chứng minh tính khoa học và độ tin cậy của việc kết hợp hai chỉ số SPI và K trong việc thiết lập hệ thống quan trắc và giám sát hạn nông nghiệp cho vùng cao nguyên Tây Nguyên.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp thích ứng đồng bộ từ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng tưới tiết kiệm đến bảo vệ vốn rừng phòng hộ với lộ trình cụ thể từ nay đến năm 2030.
  • Các nhà quản lý, doanh nghiệp nông nghiệp và nhà nghiên cứu cần đẩy mạnh khai thác cơ sở dữ liệu của luận văn để nâng cao năng lực chủ động phòng chống thiên tai và hướng tới nền nông nghiệp bền vững cho tỉnh Gia Lai.