Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp tiếp cận các nguồn ưu đãi về thuế, đất đai và nguồn vốn. Trong đó, nhóm doanh nghiệp ngành xây dựng và vật liệu giữ vai trò huyết mạch đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở sản xuất phục vụ tăng trưởng kinh tế. Mặc dù vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng và vật liệu niêm yết trong giai đoạn gần đây bộc lộ nhiều điểm chưa ổn định, thể hiện rõ qua sự biến động của tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE). Nguyên nhân một phần xuất phát từ đặc thù thâm dụng vốn lớn và tỷ trọng tài sản cố định hữu hình cao, nhưng phần lớn bắt nguồn từ những hạn chế trong công tác hoạch định và kiểm soát cấu trúc vốn của ban quản trị doanh nghiệp.
Về mặt học thuật, mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm nhưng chưa đạt được sự đồng thuận trong các kết quả thực nghiệm:
- Nhóm tác giả khẳng định việc gia tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp nhờ lợi ích từ lá chắn thuế: Draniceanu và cộng sự (2013), Farooq (2016), Ater (2017).
- Nhóm tác giả chỉ ra việc lạm dụng nợ vay gây suy giảm giá trị doanh nghiệp do áp lực chi phí kiệt quệ tài chính: Lê Thị Phương Vy và cộng sự (2013).
- Nhóm tác giả kết luận cấu trúc vốn không tạo ra tác động có ý nghĩa thống kê đối với giá trị doanh nghiệp: Karaca (2012), Rajhans (2013).
Nhằm kiểm chứng mối quan hệ này trong bối cảnh cụ thể của thị trường Việt Nam, tác giả Nguyễn Thế Quốc Anh thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp ngành xây dựng và vật liệu trên thị trường chứng khoán Việt Nam".
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận tập trung vào hai nội dung cốt lõi:
- Thứ nhất, hệ thống hóa và vận dụng các cơ sở lý thuyết nền tảng về cấu trúc vốn và định giá doanh nghiệp.
- Thứ hai, nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ tác động giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng và vật liệu, từ đó đề xuất các khuyến nghị giúp các nhà quản trị tài chính tối ưu hóa cơ cấu vốn.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, khóa luận đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Các lý thuyết và các thành phần của cơ cấu vốn là gì?
- Giá trị doanh nghiệp là gì và các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp được thực hiện như thế nào?
- Cơ cấu vốn có tác động đến giá trị doanh nghiệp hay không?
- Cơ cấu vốn có mức độ ảnh hưởng như thế nào và tác động theo chiều hướng ra sao?
- Các đề xuất nào góp phần tối ưu cấu trúc vốn để gia tăng giá trị doanh nghiệp?
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến giá trị doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm 35 doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng và vật liệu đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (HOSE, HNX, UPCOM). Phạm vi nghiên cứu về thời gian khai thác dữ liệu từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán trong giai đoạn 8 năm liên tục, từ năm 2013 đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận cấu trúc vốn dựa trên các khái niệm chuẩn mực của Horne và cộng sự (2005), Damodaran (2001), và Ahmad và cộng sự (2012). Theo đó, cấu trúc vốn được định nghĩa là tỷ trọng của các khoản nợ (bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) trong tổng tài sản nhằm tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Cơ sở pháp lý về nguồn vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ và việc phân phối các quỹ được tác giả căn cứ theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13.
Về phương diện định giá doanh nghiệp, tác giả khảo sát 3 cách tiếp cận chính:
- Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF): Xác định giá trị doanh nghiệp thông qua hiện giá của các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai với tỷ suất chiết khấu là chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền (WACC), dựa trên mô hình của Damodaran (2006).
- Phương pháp dựa trên tài sản: Định giá dựa vào bảng cân đối kế toán, kế thừa quan điểm của Modigliani và Miller (1958, 1963), Leland và cộng sự (1996), Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2005), Nguyễn Minh Kiều (2014), Antwi và cộng sự (2012), xác định giá trị doanh nghiệp bằng tổng giá trị vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn chịu lãi.
- Phương pháp định giá tương đối: Khảo sát các chỉ số thị trường như P/E, EVA, P/B, và đặc biệt là hệ số Tobin's Q. Trích dẫn nghiên cứu của Rocca (2010), có tới 67% công trình học thuật thực nghiệm giai đoạn 1988 - 2006 lựa chọn Tobin's Q làm biến đại diện cho giá trị doanh nghiệp.
Khóa luận tổng hợp hệ thống 6 lý thuyết tài chính kinh điển giải thích cơ chế tác động của cấu trúc vốn:
- Lý thuyết cổ điển của Durand (1952): Giả định chi phí nợ thấp hơn chi phí vốn chủ sở hữu, gia tăng nợ ở mức độ vừa phải sẽ làm giảm WACC và nâng cao giá trị doanh nghiệp.
- Lý thuyết Modigliani và Miller (M&M 1958, 1963): Mệnh đề I và II trong trạng thái thị trường hoàn hảo không có thuế (cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp) và trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp (giá trị doanh nghiệp có nợ bằng doanh nghiệp không nợ cộng với hiện giá lá chắn thuế lãi vay: $PV = t \times D$).
- Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-Off Theory - TOT): Bao gồm dạng tĩnh (Static TOT) của Myers (1977, 1984) và dạng động (Dynamic TOT) của Frank và cộng sự (2002), cân bằng giữa lợi ích cận biên của lá chắn thuế với chi phí cận biên của kiệt quệ tài chính và rủi ro phá sản.
- Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory - POT): Đề xuất bởi Myers và Majluf (1984), dựa trên hiện tượng bất cân xứng thông tin, chỉ ra trật tự ưu tiên tài trợ: nguồn vốn nội bộ trước, sau đó tới nợ an toàn, nợ rủi ro, chứng khoán chuyển đổi và cuối cùng mới là phát hành cổ phiếu thường.
- Lý thuyết thời điểm thị trường (Market Timing Theory): Căn cứ theo Baker và Wurgler (2002), cấu trúc vốn là kết quả tích lũy từ những nỗ lực tận dụng thời điểm định giá cổ phiếu cao để phát hành và mua lại khi giá thấp trong quá khứ.
- Lý thuyết chi phí đại diện (The Agency Theory): Phát triển từ Jensen và Meckling (1976) và Gitman (2006), phân tích mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý (agency problem), chỉ ra việc gia tăng nợ tạo áp lực tài chính buộc người quản lý cắt giảm chi phí lãng phí và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng dòng tiền.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp phương pháp định tính (thống kê, tổng hợp, so sánh) và phương pháp định lượng trên dữ liệu bảng (panel data) gồm 35 doanh nghiệp qua 8 năm (280 quan sát). Công cụ xử lý số liệu bao gồm Microsoft Excel (thu thập, làm sạch) và phần mềm STATA 14.1 (phân tích tương quan, chạy hồi quy). Quy trình ước lượng được triển khai qua mô hình bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Tác giả áp dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM, cùng kiểm định Breusch - Pagan Lagrange Multiplier để kiểm tra sự phù hợp giữa Pooled OLS và REM.
| Nhóm biến |
Ký hiệu |
Tên chỉ tiêu |
Cách tính toán |
| Biến phụ thuộc |
Tobin’s q |
Giá trị doanh nghiệp |
(Giá trị thị trường vốn cổ phần + Giá trị sổ sách nợ phải trả) / Giá trị sổ sách tổng tài sản |
|
ROEA |
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu điều chỉnh |
Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân |
| Biến cấu trúc vốn |
DA |
Tỷ số nợ trên tổng tài sản |
Tổng nợ phải trả / Tổng tài sản |
|
SDA |
Tỷ số nợ ngắn hạn |
Nợ ngắn hạn / Tổng tài sản |
|
LDA |
Tỷ số nợ dài hạn |
Nợ dài hạn / Tổng tài sản |
| Biến kiểm soát |
ROAA |
Khả năng sinh lời trên tài sản |
Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản bình quân |
|
SIZE |
Quy mô doanh nghiệp |
Logarit tự nhiên của tổng tài sản (Ln(Tổng tài sản)) |
|
AT |
Vòng quay tài sản |
Doanh thu thuần / Tổng tài sản bình quân |
|
LIQ |
Khả năng thanh khoản |
Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn |
|
TANG |
Tỷ lệ tài sản cố định hữu hình |
Giá trị tài sản cố định hữu hình / Tổng tài sản |
|
CR |
Tỷ số thanh toán hiện hành |
Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn |
|
GRTH |
Tốc độ tăng trưởng doanh thu |
(Doanh thu năm t - Doanh thu năm t-1) / Doanh thu năm t-1 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp
Chương này dành phần lớn dung lượng để tổng quan các công trình thực nghiệm quốc tế và trong nước. Trong các nghiên cứu nước ngoài, tác giả phân tích chi tiết:
- Ryan (2008) tại Nam Phi với mẫu 133 công ty ghi nhận tác động tiêu cực của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp.
- Anup và Suman (2010) tại Bangladesh nhấn mạnh việc kết hợp nợ và vốn chủ sở hữu để tối thiểu hóa WACC.
- Arsiphongphisit và Ariff (2004) tại Úc ghi nhận thị trường phản ứng tích cực khi tỷ số nợ dịch chuyển về gần mức trung bình ngành (trong khoảng thay đổi 10% đến 40%).
- Cheng và Tzeng (2011) tại Đài Loan chỉ ra đòn bẩy đồng biến với giá trị công ty trước khi chạm ngưỡng tối ưu, đặc biệt mạnh hơn ở các công ty có điểm Z-score cao.
- Sudiyatno và cộng sự (2012) tại Indonesia chứng minh đòn bẩy tài chính tác động dương đến giá trị doanh nghiệp ở mức ý nghĩa 5%.
- Chowdhury và cộng sự (2010) tại Bangladesh, Antwi và cộng sự (2012) tại Ghana và Draniceanu và cộng sự (2013) tại Rumani đều tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa các thành phần nợ và giá trị công ty.
Đối với các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Lê Thị Phương Vy và cộng sự (2013) với mẫu 203 doanh nghiệp phi tài chính giai đoạn 2008 - 2011 bằng mô hình FEM kết luận tỷ số nợ tác động tiêu cực đến Tobin's Q.
- Nguyễn Hữu Huân và cộng sự (2014) khảo sát 517 doanh nghiệp niêm yết giai đoạn 2010 - 2012 bằng phương pháp hồi quy ngưỡng, xác nhận cấu trúc vốn tác động âm đến ROE và Tobin's Q nhưng không tìm thấy sự tồn tại của các ngưỡng nợ.
Chương 1 cũng trình bày minh họa lý thuyết của Ross và cộng sự (2002) về việc tái cấu trúc vốn thông qua trường hợp công ty J.J Sprint (quy mô ban đầu 1.000 USD vốn chủ sở hữu, phát hành 100 cổ phiếu giá 10 USD, thực hiện vay nợ 500 USD để chi trả cổ tức 5 USD/cổ phiếu). Tác giả so sánh 3 kịch bản:
| Chỉ tiêu tài chính |
Không vay nợ |
Kịch bản I (Giá trị tăng) |
Kịch bản II (Giá trị không đổi) |
Kịch bản III (Giá trị giảm) |
| Nợ vay |
0 USD |
500 USD |
500 USD |
500 USD |
| Vốn chủ sở hữu |
1.000 USD |
750 USD |
500 USD |
250 USD |
| Tổng giá trị doanh nghiệp |
1.000 USD |
1.250 USD |
1.000 USD |
750 USD |
| Giá trị vốn chủ sở hữu thay đổi |
- |
-250 USD |
-500 USD |
-750 USD |
| Cổ tức chi trả cho cổ đông |
- |
+500 USD |
+500 USD |
+500 USD |
| Giá trị ròng cổ đông nhận được (NPV) |
- |
+250 USD |
0 USD |
-250 USD |
Chương 2: Nghiên cứu ảnh hưởng cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp ngành xây dựng và vật liệu
Nội dung chương 2 mở đầu bằng bức tranh tổng quan về ngành xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra xu hướng tăng trưởng ngành xây dựng trong giai đoạn 2013 - 2020 (minh họa tại Hình 2.1 của khóa luận), đồng thời nêu bật áp lực thâm dụng vốn và tỷ trọng nợ vay lớn mà các doanh nghiệp trong ngành phải gánh chịu để tài trợ cho máy móc, công trình và hàng tồn kho.
Tiếp đó, tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu thực nghiệm với 2 phương trình hồi quy tương ứng với 2 biến phụ thuộc:
- Phương trình 1: Đo lường giá trị thị trường của doanh nghiệp thông qua chỉ số Tobin’s Q.
- Phương trình 2: Đo lường hiệu quả hoạt động tài chính thông qua chỉ tiêu ROEA.
Các biến độc lập và biến kiểm soát đưa vào mô hình gồm có: tỷ số nợ tổng thể (DA), khả năng sinh lời trên tài sản (ROAA), quy mô doanh nghiệp (SIZE), vòng quay tài sản (AT), khả năng thanh khoản (LIQ), tỷ trọng tài sản cố định hữu hình (TANG), hệ số thanh toán hiện hành (CR) và tốc độ tăng trưởng doanh thu (GRTH).
Tác giả trình bày phương pháp thu thập mẫu từ 35 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đủ điều kiện báo cáo tài chính kiểm toán liên tục từ năm 2013 đến năm 2020. Dữ liệu được đưa vào phần mềm STATA 14.1 để thực hiện:
- Thống kê mô tả các biến số (giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất).
- Phân tích ma trận hệ số tương quan Pearson giữa các biến (Bảng 2.3) nhằm phát hiện sớm nguy cơ đa cộng tuyến.
- Ước lượng các tham số hồi quy qua mô hình Pooled OLS, mô hình FEM và mô hình REM.
- Tiến hành các kiểm định thống kê: Kiểm định Hausman (Bảng 2.4) nhằm đưa ra quyết định chọn lựa giữa mô hình FEM hay REM; kiểm định Breusch - Pagan Lagrange Multiplier (Bảng 2.5) để xác định sự phù hợp giữa REM và Pooled OLS; đồng thời loại bỏ các biến có hiện tượng khuyết tật mô hình nhằm nâng cao độ tin cậy của phương trình hồi quy.
Chương 3: Bình luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
Chương 3 tập trung diễn giải ý nghĩa kinh tế từ các hệ số hồi quy thu được trong mô hình thực nghiệm của ngành xây dựng và vật liệu. Tác giả đối chiếu các kết quả này với các giả thuyết nghiên cứu ban đầu và các công trình thực nghiệm đi trước (chẳng hạn như kết quả của Lê Thị Phương Vy và Nguyễn Hữu Huân tại Việt Nam).
Dựa trên phân tích thực chứng, tác giả xây dựng hệ thống các hàm ý và khuyến nghị quản trị tài chính cho các doanh nghiệp xây dựng và vật liệu:
- Kiểm soát và duy trì cơ cấu nợ ở ngưỡng an toàn, tránh tình trạng lạm dụng đòn bẩy ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn.
- Tối ưu hóa việc sử dụng lá chắn thuế từ chi phí lãi vay nhưng phải đặt trong tương quan chặt chẽ với khả năng chi trả và hạn chế rủi ro thanh khoản.
- Nâng cao hiệu suất sinh lời của tài sản và kiểm soát chặt chẽ tỷ trọng đầu tư vào tài sản cố định hữu hình nhằm hạn chế chi phí khấu hao lớn làm bào mòn lợi nhuận.
- Nhận diện những hạn chế về mặt mô hình và phạm vi dữ liệu, đồng thời đề xuất định hướng nghiên cứu chuyên sâu hơn cho giai đoạn tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết kinh điển về cấu trúc vốn từ lý thuyết cổ điển của Durand (1952), hệ thống lý thuyết M&M (1958, 1963), lý thuyết đánh đổi TOT, lý thuyết trật tự phân hạng POT, lý thuyết thời điểm thị trường cho đến lý thuyết chi phí đại diện. Tác giả đã làm rõ cơ chế chuyển hóa giữa lợi ích lá chắn thuế và rủi ro kiệt quệ tài chính thông qua mô hình lý thuyết của Ross và cộng sự (2002).
Về mặt thực nghiệm, công trình đóng góp một khung phân tích định lượng chuyên biệt cho ngành xây dựng và vật liệu trên thị trường chứng khoán Việt Nam với các điểm then chốt:
- Thu thập và xử lý bộ dữ liệu bảng gồm 35 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 8 năm (2013 - 2020), tạo lập cỡ mẫu 280 quan sát có độ tin cậy cao từ báo cáo tài chính đã kiểm toán.
- Thiết lập hệ thống 10 biến số kinh tế tài chính, kết hợp đồng thời biến đo lường giá trị thị trường (Tobin's Q) và biến hiệu quả nội tại (ROEA), phản ánh toàn diện các khía cạnh về quy mô (SIZE), đòn bẩy (DA), thanh khoản (LIQ, CR), cơ cấu tài sản (TANG), hiệu quả hoạt động (AT, ROAA) và tiềm năng tăng trưởng (GRTH).
- Thiết lập quy trình kiểm định kinh tế lượng bài bản trên phần mềm STATA 14.1, vận dụng các kiểm định chuyên sâu (Hausman test, Breusch - Pagan Lagrange Multiplier) để lựa chọn mô hình phù hợp nhất giữa Pooled OLS, FEM và REM, xử lý hiện tượng khuyết tật mô hình nhằm đảm bảo tính khách quan cho các kết luận.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi dữ liệu và phương pháp được tác giả chỉ ra:
- Khung mẫu nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi 35 doanh nghiệp ngành xây dựng và vật liệu đã niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán tập trung tại Việt Nam, chưa bao quát được toàn bộ các doanh nghiệp chưa niêm yết hoặc các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ trong ngành.
- Khung thời gian dừng lại ở năm 2020, chưa phản ánh được các biến động tài chính phức tạp của giai đoạn phục hồi kinh tế sau đó.
- Trong quá trình xử lý thống kê, tác giả đã phải lược bỏ bớt một số biến có hiện tượng khuyết tật sau khi chạy kiểm định mô hình, điều này phần nào thu hẹp phạm vi đánh giá các khía cạnh tài chính đa chiều.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định bao gồm việc mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu cho toàn ngành xây dựng và vật liệu, kéo dài chuỗi thời gian phân tích, bóc tách sâu hơn các thành phần nợ (nợ vay ngân hàng, phát hành trái phiếu doanh nghiệp, nợ thương mại chiếm dụng), và ứng dụng các mô hình kinh tế lượng phi tuyến hoặc hồi quy ngưỡng nhằm tìm kiếm cấu trúc vốn tối ưu chính xác hơn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn rõ ràng đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán và Quản trị kinh doanh: Cung cấp nguồn tổng quan lý thuyết súc tích, mạch lạc về cấu trúc vốn và các phương pháp định giá doanh nghiệp, cùng hệ thống tổng thuật 16 nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước.
- Người làm đề tài nghiên cứu về dữ liệu bảng: Phần thiết kế nghiên cứu ở Chương 2 là hình mẫu chuẩn mực về việc xây dựng bảng đo lường biến số, quy trình thực hiện kiểm định Hausman và Breusch - Pagan Lagrange Multiplier trên STATA.
- Các nhà quản trị tài chính tại các doanh nghiệp xây dựng và vật liệu: Tham khảo các tiêu chí đo lường tỷ số nợ (DA, SDA, LDA) và mối liên hệ với các chỉ số thanh khoản, vòng quay tài sản để đưa ra các quyết sách cấu trúc vốn an toàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng các chỉ tiêu nào để đại diện cho giá trị doanh nghiệp và cấu trúc vốn?
Khóa luận sử dụng 2 chỉ tiêu đại diện cho giá trị doanh nghiệp gồm: chỉ số Tobin’s Q (đo lường giá trị thị trường) và chỉ tiêu ROEA (tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu điều chỉnh). Cấu trúc vốn được đại diện bởi tỷ số nợ tổng thể DA (Tổng nợ / Tổng tài sản), đồng thời khảo sát thêm tỷ số nợ ngắn hạn SDA và tỷ số nợ dài hạn LDA.
2. Mẫu nghiên cứu thực nghiệm trong khóa luận được thu thập từ nguồn nào, quy mô bao nhiêu và trong khoảng thời gian nào?
Mẫu nghiên cứu gồm 35 doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng và vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (HOSE, HNX, UPCOM). Dữ liệu được trích xuất từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán trong giai đoạn 8 năm, từ năm 2013 đến năm 2020, tạo thành bộ dữ liệu bảng gồm 280 quan sát.
3. Khóa luận phân biệt sự khác nhau giữa Lý thuyết đánh đổi (TOT) và Lý thuyết trật tự phân hạng (POT) như thế nào?
Lý thuyết đánh đổi (TOT) cho rằng doanh nghiệp luôn tồn tại một tỷ lệ nợ mục tiêu tối ưu nhằm cân bằng giữa lợi ích của lá chắn thuế với chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí phá sản. Ngược lại, Lý thuyết trật tự phân hạng (POT) dựa trên giả định bất cân xứng thông tin, khẳng định không có tỷ lệ nợ tối ưu; doanh nghiệp sẽ huy động vốn theo thứ tự ưu tiên: từ nguồn vốn nội bộ trước, sau đó mới đến nợ vay và cuối cùng mới phát hành cổ phiếu thường.
4. Khóa luận đã sử dụng những mô hình hồi quy và kiểm định kinh tế lượng nào trong phần mềm STATA 14.1?
Tác giả đã triển khai 3 dạng mô hình dữ liệu bảng gồm: mô hình bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Để lựa chọn mô hình tối ưu, tác giả thực hiện kiểm định Hausman (chọn giữa FEM và REM) và kiểm định Breusch - Pagan Lagrange Multiplier (chọn giữa REM và Pooled OLS).
5. Theo khảo sát nghiên cứu trong nước của tác giả, nghiên cứu của Lê Thị Phương Vy (2013) và Nguyễn Hữu Huân (2014) đưa ra kết luận gì về tác động của cấu trúc vốn?
Nghiên cứu của Lê Thị Phương Vy và cộng sự (2013) trên 203 doanh nghiệp phi tài chính giai đoạn 2008 - 2011 bằng mô hình FEM cho thấy tỷ số nợ có mối quan hệ tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp (Tobin’s Q). Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Huân và cộng sự (2014) trên 517 doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2012 cũng kết luận cấu trúc vốn có tác động âm đến ROE và Tobin’s Q, đồng thời không tìm thấy sự tồn tại của các ngưỡng nợ tác động đến giá trị doanh nghiệp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thế Quốc Anh là công trình nghiên cứu thực chứng nghiêm túc, giải quyết thấu đáo vấn đề tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp ngành xây dựng và vật liệu trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013 - 2020. Tác giả đã kết nối chặt chẽ giữa hệ thống lý thuyết tài chính kinh điển với phương pháp kinh tế lượng hiện đại trên dữ liệu bảng thông qua các mô hình Pooled OLS, FEM và REM. Kết quả nghiên cứu và quy trình thực nghiệm cung cấp cơ sở khoa học hữu ích cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc điều tiết đòn bẩy tài chính, đồng thời đóng vai trò là tài liệu tham khảo phương pháp luận chuẩn xác cho các nghiên cứu tài chính thực nghiệm tiếp theo.