Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị giá trị doanh nghiệp 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Ryan (2008) nghiên cứu 133 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Johannesburg, Nam Phi trong giai đoạn từ 1998 đến 2007. Kết luận cho rằng cấu trúc vốn tác động âm đến giá trị công ty.
Theo tác giả thì kết quả này đồng nhất với các phát hiện của Rajan và Zingales (1995); Myers (1984). Tuy nhiên, kết luận này lại ngược lại với các nghiên cứu trước về cấu trúc vốn của Ward và Price (2006). Sharma (2006), Firer và ctg (2004); khi cho rằng một sự gia tăng trong cấu trúc vốn có tác động tích cực đến giá trị công ty. Anup và Suman (2010) tìm hiểu tác động của cấu trúc vốn lên giá trị của công ty tại Bangladesh.
Để thấy mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị công ty, nghiên cứu xem giá cổ phiếu đại diện cho giá trị công ty và các tỷ số khác nhau cho quyết định cấu trúc vốn. Kết quả cho rằng, tối đa hóa tài sản của các cổ đông yêu cầu một sự kết hợp hoàn hảo giữa nợ và cổ phiếu, ở đó chi phí vốn có mối tương quan âm với quyết định này và nó phải thấp nhất có thể. Một công ty có thể gia tăng giá trị trong thị trường bằng cách thay đổi các thành phần cấu trúc vốn, các nhà quản lý tài chính có thể tận dụng nợ để hình thành cấu trúc vốn tối ưu để tối đa hóa tài sản của các cổ đông. Arsiphongphisit và Ariff (2004) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị các công ty tại Úc, cho thấy rằng một sự thay đổi có ý nghĩa trong giá trị công ty khi cấu trúc vốn tương đối thay đổi từ 10% đến 40%.
Cấu trúc vốn tương đối là sự thay đổi trong cấu trúc vốn của công ty liên quan đến tỷ số trung bình của ngành. Thị trường phản ứng tích cực khi các thông báo sự kiện tài chính dẫn đến cấu trúc vốn dịch chuyển gần hơn với tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu trung bình ngành. Các công ty thay đổi tỷ số nợ/Vốn chủ sở hữu xa trung bình ngành (theo chiều hướng giảm) dẫn đến lợi nhuận bất thường ít dương hơn hoặc âm. 5 Cheng và Tzeng (2011) nghiên cứu tác động của đòn bẩy tài chính đến giá trị công ty sử dụng 645 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Đài Loan (TSE) từ năm 2000 đến 2009.
Kết quả thực chứng chỉ ra như sau: giá trị của công ty có sử dụng nợ thì cao hơn công ty không sử dụng nợ nếu không xem xét khả năng phá sản; nếu đồng thời xem xét lợi ích và chi phí của nợ, đòn bẩy nợ có mối quan hệ đồng biến với giá trị công ty trước khi chạm đến cấu trúc vốn tối ưu của công ty. Ảnh hưởng dương của đòn bẩy tài chính đến giá trị công ty có xu hướng mạnh hơn khi chất lượng tài chính công ty tốt hơn (Z-score cao hơn). Sudiyatno và ctg (2012) tiến hành kiểm định vai trò của hiệu quả hoạt động công ty trong việc xác định chiều tác động của mối quan hệ giữa chính sách công ty và giá trị công ty. Mục tiêu là xác định vai trò của hiệu quả hoạt động công ty như là một biến bị tác động bởi các chính sách công ty và ảnh hưởng lên giá trị công ty.
Nghiên cứu được thực hiện sử dụng mẫu số liệu là các công ty sản xuất niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Indonesia (IDX) từ năm 2008 đến 2010. Kết quả cho thấy, đòn bẩy tài chính có tác động dương đến giá trị công ty với mức ý nghĩa 5%. Hiệu quả hoạt động của công ty có mối quan hệ cùng chiều với giá trị công ty ở mức ý nghĩa nhỏ hơn 1%. Tác giả cũng cho rằng kết quả này đồng nhất với các nghiên cứu của Carlson và Bathala (1997), Markaryawati (2002), Ulupui (2007), Sudiyatno (2010).
Tuy nhiên, trái với kết quả nghiên cứu được thực hiện bởi Suranta và Pratana (2004), cho rằng ROA có tác động ngược chiều đến giá trị công ty. Tại Mỹ, Konijn và ctg (2009) khi xem xét ảnh hưởng của cấu trúc vốn chủ sở hữu đến giá trị công ty dưới hình thức sự phân tán của các nhóm cổ đông. Tác giả đã kết luận rằng, có mối quan hệ nghịch biến giữa sự phân tán các nhóm cổ động và Tobin’s Q (đại diện cho giá trị công ty). Jirapon và Liu (2008) với nền tảng là lý thuyết người đại diện, đã tiến hành kiểm định xem có sự ảnh hưởng của ban quản trị được phân lớp (Staggered Board) đến sự lựa chọn cấu trúc vốn hay không? Nghiên cứu chỉ ra rằng: có bằng chứng hỗ trợ giả thuyết cho rằng công ty với ban quản trị được phân lớp sử dụng đòn cân nợ ít hơn một cách 6 đáng kể so với ban quản trị đồng nhất.
Đồng thời, khi tìm hiểu xem giá trị công ty có bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng đòn cân nợ bất thường do sự hiện diện của ban giám đốc được phân lớp hay không ? Kết quả cho thấy có sự tác động tiêu cực lên giá trị công ty do sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức nhưng không có ý nghĩa thống kê. Setiabudi và Agustia (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của đòn cân nợ đến giá trị công ty và ảnh hưởng của các yếu tố khác đến giá trị công ty thông qua đòn cân nợ của 44 công ty tại Indonesia trong giai đoạn 2005 đến 2009. Kết quả chỉ rằng: kích cỡ công ty, tài sản hữu hình có ảnh hưởng dương đến đòn cân nợ. Tài sản cố định ảnh hưởng dương đến giá trị công ty và đòn cân nợ có tác động âm đến giá trị công ty.
Carpentier (2006) nghiên cứu mối quan hệ dài hạn của cấu trúc vốn tác động lên giá trị doanh nghiệp. Bằng cách sử dụng dữ liệu gồm 243 doanh nghiệp tại Pháp trong giai đoạn từ 1987-1996. Kết quả cho thấy sự thay đổi về nợ tác động ngược chiều đến sự thay đổi của giá trị doanh nghiệp nhưng không có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, tác giả cũng cho biết quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với giá trị doanh nghiệp với độ tin cậy là 99%, nhưng sự tăng trưởng lại không có ý nghĩa thống kê với sự thay đổi giá trị doanh nghiệp trong dài hạn.
Chowdhury và cộng sự (2010) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn lên giá trị doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Bangladesh bằng bộ dữ liệu bảng gồm 77 doanh nghiệp phi tài chính thuộc 4 lĩnh vực chủ đạo khác nhau như: Dược phẩm và hóa chất; nhiên liệu và năng lượng; thực phẩm và công nghiệp kỹ thuật trong giai đoạn 1994 - 2003. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến EPS (Thu nhập trên mỗi cổ phiếu), DPRATIO (Tỷ lệ chi trả cổ tức), DEBTAS (Tỷ số nợ) và CURATIO (Tỷ số thanh toán ngắn hạn) tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp nhưng độ tin cậy không cao. Ngược lại các biến độc lập như: PUBLIC (Tỷ lệ % công chúng nắm giữ cổ phiếu), FATO (Vòng quay tài sản cố định), OPERLEV (Đòn bẩy hoạt động), SALESGR (Tốc độ tăng trưởng doanh thu) và SHARECAP (Vốn cổ phần) lại tác động tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp. Điều này có thể là một hàm ý chính sách quan trọng cho các nhà quản trị tài 7 chính, bởi vì họ có thể kết hợp hoàn hảo giữa nợ và vốn chủ sở hữu để tạo thành cấu trúc vốn tối ưu và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Antwi và các cộng sự (2012) thực hiện nghiên cứu cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm từ Ghana. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu gồm 34 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Ghana (GSE) năm 2010 với hai biến đại diện cho cấu trúc vốn là cấu trúc vốn chủ sở hữu và tỷ số nợ dài hạn. Bằng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu (OLS), kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp. Vì vậy, nhóm tác giả đưa ra nhận định: Các nhà hoạch định tài chính doanh nghiệp nên sử dụng nhiều nguồn vốn dài hạn hơn (nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu) so với nguồn vốn ngắn hạn trong việc tài trợ các hoạt động sản xuất kinh doanh vì nó tác động nhiều hơn đến giá trị của doanh nghiệp.
Draniceanu và cộng sự (2013) thực hiện nghiên cứu: Cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm từ các công ty cổ phần Rumani. Nghiên cứu này được thực hiện với 48 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Bucharest giai đoạn 2003 - 2012. Biến đại diện cho giá trị doanh nghiệp: chỉ số Tobin’s Q (được đo lường bằng giá trị vốn hoá của cổ phiếu thường + giá trị sổ sách của nợ/giá trị sổ sách của tổng tài sản). Cấu trúc vốn với biến đại diện: Tỷ số nợ (tổng nợ/tổng tài sản).
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Cấu trúc vốn có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho biết thêm: Biến quy mô doanh nghiệp (Size), tốc độ tăng trưởng doanh thu (Growth) và giá trị vốn hoá của vốn chủ sở hữu/giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu: tác động tích cực đến giá trị DN. Hoque và các cộng sự (2014) nghiên cứu tác động của chính sách cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp đối với 20 doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán Dhaka trong giai đoạn 2008-2012. Nghiên cứu này xem xét các yếu tố quyết định chính sách cấu trúc vốn bao gồm rủi ro tài chính, năng suất, tính thanh khoản, rủi ro hoạt động, tốc độ tăng trưởng, thời gian hoạt động, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, tính ổn định của doanh thu/đầu tư.
Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng các biến độc lập như: Cấu 8 trúc vốn (nợ trên vốn chủ sở hữu và nợ trên tài sản), tỷ trọng tài sản cố định hữu hình trên tổng tài sản, hệ số thanh toán lãi vay (EBIT/I), đòn bẩy tài chính đã ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp đến mức 79. Các biến còn lại như năng suất, tính thanh khoản, rủi ro hoạt động, tốc độ tăng trưởng, thời gian hoạt động, thuế suất thuế TNDN, ổn định của doanh thu/đầu tư không có tác động nhiều đến giá trị doanh nghiệp.