mở đầu cho hàng loạt các nghiên cứu khác về giới tại Việt Nam. Từ những năm 1990 trở lại đây có rất nhiều dự án về PN và giới, chủ yếu các dự án tập trung vào các lĩnh vực sức khỏe gia đình, chính sách, có một số dự án về PN và môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên ở vùng miền núi Việt Nam (Phạm Thị Huệ, 2000). Nghiên cứu của Ireson (1996) chỉ ra PN và NG của cộng đồng người Tày ở Hòa Bình sử dụng các sản phẩm rừng khác nhau, PN thường thu lái các sản phẩm rừng phục vụ cho gia đình, NG thường, tập trung đi khai thác tre, cỗ và đi săn. Ngoài ra có một số nghiên cứu khác về sự tham gia của PN và NG trong sử dụng đất cấp hộ gia đình như của tác giả Đồng Thị Tâm (2004).
Hay nghiên cứu mối quan hệ về giới trong phân công, lao động và quyền ra quyết định của PN và NG trong sử dụng đất, sử dụng lâm. sản ngoài gỗ của người Dao tại thôn Hợp Nhất, xã Ba Vì, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Đặng Tùng Hoa, Nguyễn Thị Bảo Lâm, Trần Thị Chì (2004). Nói tóm lại, vấn đề giới và phân công lao động theo giới đang là vấn đề được quan tâm.
Làm sao để nâng cao được vai trò, vị trí của người PN trong gia đình cũng như trong xã hội, góp phần vào việc đây mạnh phát triển kinh tế -4- đất nước. Thay đổi được quan niệm, cách nghĩ về PN khi xưa là một vấn đề cần thiết vì xã hội ngày nay đang cần rất nhiều sự đóng góp của cả hai giới. Đặc biệt là người PN trong phát triển nông thôn, người PN giữ vai trò to lớn trong quá trình sản xuất, quá trình sử dụng đất. Cơ sở lý luận Ha Quang Khải và cộng sự (2002) đưa ra một số khái niệm có liên quan đến sử dụng đất như sau: - Loại hình sử dụng đất là một dạng chính trong sử dụng đất ở nông thôn, ví dụ: đất trồng trọt không tưới, đất trồng trọt có tưới, đất trồng cỏ, đất lâm nghiệp.
- Kiểu sử dụng đất là một dạng sử dụng đất được mô tả chỉ tiết hơn so. với loại hình sử dụng đất, ví dụ: đất trồng lạc và trồng ngô hàng năm không tưới, được sử dụng bởi các hộ gia đình, sử dụng sức kéo, cường độ lao động. cao, trạng trại, quy mô Š — 10 ha. Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự (2006) đưa ra một số khái Sau: «Khái niệm về giới -Giới là một thuật ngữ hay một phạm trù chỉ các quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội củ phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể.
Nói cách khác: Giới chỉ sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ từ góc độ xã hội ở nhiều khía cạnh như vai trò, trách nhiệm, quyền lợi và công việc. Khi nói đến mỗi quan hệ là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt các vấn đề thuộc về thẻ chế và xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay phụ nữ nào. - Giới tính chỉ sự khác biết tự nhiên giữa phụ nữ và nam giới từ góc độ sinh học (cấu tạo hoóc môn, nhiễm sắc thể, các bộ ph: sinh dục. Sự khác nhau này liên quan chủ yếu tới quá trình tái sản xuất con người và di truyền nòi giống, cụ thể là phụ nữ có thể mang thai, còn nam giới là một trong các yếu tố không thể thiếu được trong quá trình thụ thai.
«Vai trò của giới Vai trò giới là những công và hoạt động khác nhau mà phụ nữ và nam giới làm trong thực tế. Vai trò của giới là một khái niệm được sử dụng để phân tích mối tương quan giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội. Moser (1993) đã chia ra 3 vai trò của giới, đó là: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng. ~ Vai trò sản xuất: Vai trò sản xuất là những công việc do cả phụ nữ và nam giới thực hiện nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
Chúng bao gồm cả sản xuất hàng hóa (sản xuất vật chất , tỉnh thần hoặc các địch vụ để trao đổi mua bán.) có giá trị trao đổi và cả sản xuất tạo ra các vật dụng (các phương tiện sinh sống. hoặc các sản phẩm để tự tiêu dùng trong gia đình.), không những có giá trị sử dụng mà còn có khả năng trao đổi tiềm tầng. Vai trò sản xuất của phụ nữ ở nông thôn miền núi bao gồm các công việc cấy, làm cỏ, gặt, chăm sóc, chăn nuôi, trồng rau, lấy củi. còn nam giới vai trò sản xuất thường thể hiện ở các công việc như cày bừa, vận chuyển sản phẩm, khai thác gỗ làm mộc, xây dựng, nhà cửa.
- Vai trò tái sản suất Vai trò tái sản xuất bao gồm những hoạt động tạo giống nòi, duy trì và tái tạo sức lao động. Vai trò tái sản xuất đó không chỉ bao gồm sự tái sản xuất sinh học (sinh con) mà còn cả việc chăm lo, duy trì và phát triển lực lượng lao động cho thực tại và cho tương lai như nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng và chăm $óc các thành viên khác trong gia đình. Đây là những công việc thiết yếu để duy trì cuộc song tồn tại của con người. Song trên thực tế loại công việc này rất ít được gọi là công việc “thực sự”.
Ở các nước phát triển, công việc tái sản xuất: chăm sóc, nuôi dạy con trong gia đình và công việc nội trợ thường do phụ nữ đảm nhiệm. - Vai trò cộng đồng, Vai trò cộng đồng là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện ở cấp cộng đồng nhằm phục vụ lợi ích chung, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và xã hội như các cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội, bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng. ~ Vai trò tham gia cộng đồng, Vai trò tham gia cộng đồng bao gồm các hoạt động chủ yếu do phụ nữ thực hiện ở cấp cộng đồng: làng, bản, khối phố như sự mở rộng tái sản xuất của chính mình. Đó là các hoạt động nhằm duy trì, bảo vệ các nguồn lực khan hiếm được sử dụng chung ở cộng đồng như nước sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe và giáo dục, giữ gìn môi trường như quét, dọn đường làng, xóm, phố hoặc cải thiện đời sống sinh hoạt cộng đồng như giữ gìn trật tự vệ sinh, làm đẹp các công trình công cộng.
Đây thường là những công việc tự nguyện không được trả công và thường được làm vào thời gian rỗi. - Vai tr lãnh đạo Vai trò lãnh đạo cộng đồng bao gồm các hoạt động ở cấp cộng đồng, cấp độ chính trị ở quốc gia. Những công việc này thường do nam giới thực hiện và thường được trả công trực tiếp bằng tiền hoặc gián tiếp bằng tăng thêm vị và quyền lực. Trong các tổ chức chính quyền và đoàn thể cấp cộng đồng có cả phụ nữ và nam giới tharn øia.
suy nhiên số lượng phụ nữ thường ít hơn so với nam giới. Như trên đã nói giới là một yếu tố xã hội, là cấu trúc văn hóa và nó bị ảnh hưởng bởi nhiều các yếu tố khác nhau, đó là hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế, hệ thống giáo dục, mối quan hệ xã hội và gia đình, tôn giáo, tín ngưỡng. ©_ Phân công lao động Chúng ta có thể hiểu phân công lao động là sự phân công các công việc do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm trên thực tế. Mặc dù hầu hết các công việc sản xuất và chế biến nông sản đều có thể chia sẻ giữa các thành viên.
Phụ nữ và ois nam giới vẫn có xu hướng làm những công việc khác nhau. Tuy nhiên cả hai giới đều cho rằng nam giới luôn gánh vác những công việc nặng hơn phụ nữ, như phụ nữ chăm sóc cây thì nam giới quản lý bảo vệ rừng, lựa chọn cây trồng, khai thác gỗ làm nhà. đây là những công việc xã hội cho rằng khó khăn, nặng, nhọc và đỏi hỏi hiểu biết nhiều hơn. © Phan tich giới Phân tích giới là quá trình thu thập, phân tích các số liệu một cách có hệ thống thông tin về giới.
Phân tích giới bao gồm việc xác định những hoạt động. kinh tế mà phụ nữ và nam giới tiến hành, những nguồn lực mà nam giới và phụ nữ sử dụng và quản lý và những lợi ích mà họ nhận được. Để tiến hành phân tích giới chúng ta cần tất cả số liệu tách biệt theo giới cho phép đo đếm tác động khác nhau đối với phụ nữ và nam giới nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp với đặc thù, nhu cầu của mỗi Phân tích giới là phân tích vị trí của nam giới và phụ nữ trong xã hội để xác định nhu cầu tiềm năng riêng của họ nhằm dạt hiệu quả lao động cao và để đảm bảo sự tham gia của nam giới và phụ nữ, đáp ứng được cả nhu cầu của cả hai giới làm cho họ thấy hài lòng. Nhưng phân tích giới đòi hỏi các kỹ năng phân tích giới và xã hội tốt.
Những công việc này thường do các nhà nghiên cứu xã hội học hoặc chuyên gia giới được đào tạo bù? bản: và giàu kinh nghiệm tiến hành. s _ Tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực Kiểm soát dùng để chỉ quyền ra quyết định của mỗi giới về một nguồn lực. Nguồn lực sản xuất bao gồm: đất đai, vốn, lao động, vật nuôi, các đầu vào khác của sản xuất, công nghệ. và cũng tạo ra những cái lợi như tiền công, nâng cao kỹ năng, cơ hội được đào tạo hoặc phát triển.
đối với người làm. Tiếp cận là chỉ quyền sử dụng một nguồn lực hay khả năng tiếp cận, tham gia trực tiếp của mỗi giới đối với một nguồn lực. Ví dụ: phụ nữ vẫn được tiếp -8- cận với đất đai nghĩa là trực tiếp canh tác ruộng đất. Phân tích tiếp cận và kiểm soát chỉ ra và xác định mức độ của những chênh.
lệch và bắt hợp lý giữa nam giới và phụ nữ trong công việc phân phối nguồn lực và lợi ích của các chính sách, chương trình và dự án phát triển. Việc phân biệt giữa tiếp cận và kiểm soát là rất quan trọng, tiếp cận nói đến khả năng sử dụng nguồn lực và các lợi ích. Kiểm soát nói đến khả năng quyết định phương thức sử dụng hoặc phân phối nguồn lực và các lợi ích. Phụ nữ và nam giới có mức độ tiếp cận và kiểm soát khác nhau đối với các nguồn lực và các lợi ích.