ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đƣợc coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của vùng Đông Nam Á. Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc điều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao do có sự kết hợp nhiều yếu tố. Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của trái đất nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Rừng là bộ phận quan trọng của môi trƣờng sinh thái và có giá trị to lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Rừng là lá phổi xanh của nhân lọai, nó điều hòa khí hậu, cải tạo môi trƣờng sống, làm sạch môi trƣờng sinh thái. Rừng cung cấp nguồn năng lƣợng sạch cho con ngƣời. Rừng có vai trò quan trọng trong việc cải tạo nguồn nƣớc, cải tạo dòng chảy, giảm thiểu nguy cơ hạn hán, lũ lụt, xói mòn cho con ngƣời. Ngoài cung cấp những lâm sản nhƣ cung cấp gỗ, các loài dƣợc liệu quý hiếm, và năng lƣợng lớn từ củi, chất đốt phục vụ nhu cầu của con ngƣời; rừng còn có chức năng bảo vệ môi trƣờng sinh thái và rừng là nơi lƣu giữ các nguồn gen động thực vật quý hiếm.
Có thể nói rừng có một vai trò rất quan trọng đối với con ngƣời và sinh vật. Vì vậy công tác bảo vệ và phát triển rừng đòi hỏi cả xã hội phải quan tâm cùng thực hiện. Ngày nay, cùng vơi sự phát triển của xã hội thì diện tích rừng đang bị thu hẹp một cách đáng báo động. Đó là thực trạng chung không chỉ diễn ra ở nƣớc ta mà cả trên thế giới.
Theo các tài liệu có đƣợc, năm 1943 Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng với độ che phủ 43%, đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha với độ che phủ 27,2%, thời kỳ 1980 – 1990 bình quân mỗi năm 100ha rừng bị đã bị mất. Nhƣng từ năm 1990 trở lại đây diện tích rừng đã tăng lên nhờ việc trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên. Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, tổng diện tích rừng nƣớc ta hiện nay là 13.843 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.305 ha, rừng trồng chiếm 2.538 ha, độ che phủ 39,1%, trong đó khoảng trên 10 triệu ha là rừng 10 tự nhiên và gần 3 triệu ha là rừng trồng (chiến lƣợc phát triển lâm nghiệp 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 – 2010 và giai đoạn 2006 – 2020). Diện tích rừng trồng ngày càng tăng đã góp phần quan trọng làm tăng tỷ lệ che phủ của rừng lên 11,9% so với năm 1990 đánh giá đƣợc sự nỗ lực to lớn của toàn đảng, toàn dân và đại diện là ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Thông qua việc phát động và tổ chức thực hiện các dự án nhƣ: Dự án 327, 661…các chƣơng trình hỗ trợ phát triển rừng của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ quốc tế. Tuy nhiên, rừng trồng thì tăng lên nhƣng rừng tự nhiên ngày càng mất đi do khai thác, chặt phá rừng làm nƣơng rẫy của con ngƣời và do tự nhiên nhƣ cháy rừng…điều đó cho thấy khi một loài động thực vật nào đó bị tuyệt chủng và đó cũng là dấu hiệu cho sự tổn thất về đa dạng sinh học của vùng đó nói riêng và thế giới nói chung. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải bảo tồn và phát triển những cây đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Đinh hƣơng (Dysoxylum cauliflorum Hiern, 1875.) thuộc chi Chặc khế (Dysoxylon) trong họ Xoan (Meliaceae), là một trong những loài cây rừng có giá trị kinh tế, mọc trong rừng thƣờng xanh, nguyên sinh hay thứ sinh, chân núi đá vôi, thung lũng ở độ cao dƣới 700m và chiếm tầng cao của tán rừng.
Tái sinh thiên nhiên kém thƣờng gặp cây con dọc đƣờng đi trong rừng. Gỗ Đinh hƣơng không bị mối mọt, có mùi thơm đặc trƣng đƣợc dùng cho xây dựng và đóng đồ cao cấp, vì vậy Đinh hƣơng đang bị săn lùng và khai thác đến kiệt quệ ở nhiều khu vực khác nhau. Hiện nay, loài này chỉ còn rất ít ở một số khu rừng tự nhiên, khu Bảo tồn thiên nhiên, Vƣờn quốc gia. Do loài có giá trị, nhƣng số lƣợng loài rất ít và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng nên đƣợc xếp vào Sách đỏ Việt Nam.
Vấn đề dặt ra hiện nay là làm thế nào để bảo vệ loài cây này tránh khỏi sự tuyệt chủng, chúng ta cần có những biện pháp bảo vệ, đồng thời có nhƣng nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh thái nhằm đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn gen quý giá, bảo vệ tính đa dạng sinh học đồng thời phát triển loài. Trong hệ thực vật xã Mƣờng Đun, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, có loài Đinh hƣơng phân bố, là loài cần đƣợc phát triển và bảo tồn. 11 Để góp phần bảo tồn và phát triển loài cây nguy cấp, quý hiếm bị mất đi tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu sự phân bố và bảo tồn loài Đinh hương (Dysoxylum cauliflorum Hiern, 1875.) tại xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên cứu. Khóa luận tập trung nghiên cứu một số nội dung chính nhƣ đặc điểm hình thái, đặc điểm phân bố, tình hình khai thác và bảo tồn loài Đinh hƣơng tại xã Mƣờng Đun, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên và đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài tại khu vực nghiên cứu.
12 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là một hệ sinh thái, thực vật rừng có cả sự biến động về chất và lƣợng khi các yếu tố ngoại cảnh thay đổi, nghĩa là giữa cây rừng và điều kiện ngoại cảnh có mối quan hệ mật thiết với nhau và mối quan hệ này đƣợc điều tiết bởi con ngƣời.Odum (1975) đã chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hay từng loài, trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý, ngoài ra các mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trƣởng có thể định lƣợng bằng phƣơng pháp toán học gọi là mô phỏng, phản ánh đặc điểm, quy luật tƣơng quan phức tạp trong tự nhiên. Các phƣơng pháp thực nghiệm sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá đã đƣợc trình bày trong cuốn “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen D.Lacher (1978) đã chỉ rõ các vấn đề nghiên cứu trong sinh thái thực vật nhƣ sự thích nghi các diều kiện: Dinh dƣỡng khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt, nhịp điệu khí hậu.
Trong thuyết học về các kiểu rừng G.Morodop đã hình thành những lý luận cơ bản về sinh thái rừng và các kiểu rừng: “Đời sống của rừng có thể đƣợc hiểu trong mối liên hệ với điều kiện hoàn cảnh mà trong đó có quần xã thực vật rừng tồn tại và quần xã thực vật này luôn luôn chịu tác động trực tiếp của các nhân tố sinh thái trong hoàn cảnh đó”. Ông cho rằng điều kiện tiên quyết, quyết định hình thành rừng là đặc điểm sinh thái học của các loài cây gỗ. Một số tài liệu nghiên cứu nƣớc ngoài về biến động của các nhân tố sinh thái dƣới tán rừng và ảnh hƣởng của nó đến sinh trƣởng, phát triển của loài cây tái sinh đều đã chứng minh rằng: Chế độ ánh sáng dƣới tán rừng hỗn giao lá rộng nhiệt đới thƣờng thấp hơn ở ngoài rừng và chỉ đạt 0,5 – 1,0% các tia bức xạ 13 quang hợp (X.Logan,1996) và các loại rừng khác có thể đạt từ 1 - 2% cƣờng độ ánh sang hoàn toàn. Trong khi đó đối với các loài cây chịu bóng chỉ cần cƣờng độ ánh sáng 550 – 1.600 lux, tƣơng đƣơng với 0,5 – 1,5% lƣợng ánh sáng hoàn toàn (Grain, 1966).
Vào đầu thế kỷ XX, nhà bác học ngƣời Nga V.Đôcuchaep đã chỉ ra rằng: Phạm vi phân bố địa lý của thực vật đƣợc xác định bởi điều kiện ẩm độ, khí hậu. Điều kiện đó phụ thuộc vào lƣợng mƣa và lƣợng bốc hơi do tác dụng của nhiệt độ. Nhiều Nhà khoa học lại nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc lâm phần và các quy luật cấu trúc cơ bản của lâm phần nhƣ cấu trúc rừng theo chiều thẳng đứng, là vẽ trắc đồ đứng, các trắc đồ đã mang lại hình ảnh khái quát về cấu trúc tầng tán và phân bố số cây theo chiều cao, từ đó rút ra đề xuất và ứng dụng trong thực tế. Phƣơng pháp này đƣợc nhiều nhà nghiên cứu rừng nhiệt đới áp dụng mà điển hình là các công trình của P.
Các công trình nghiên cứu phân bố số cây theo đƣờng kính của Meyer (1952) đã mô tả số cây theo đƣờng kính bằng phƣơng pháp toán học có dạng đƣờng cong giảm liên tục. Một số tác giả khác nhƣ Zieger (1928), Willing (1948) lại kết luận, có mối quan hệ mật thiết giữa đƣờng kính tán với đƣờng kính ngang ngực tùy theo loài cây và các điều kiện sinh trƣởng khác nhau mối liên hệ này đƣợc biểu hiện khác nhau nhƣng phổ biến nhất là dạng phƣơng trình đƣờng thẳng: Dt = a+b. Khi nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới Van Steenis.j (1956) đã nêu ra 2 đặc điểm tái sinh phổ biến đó là: Tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh vệt thích hợp với các loài cây ƣa sáng. Khi nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình của P.Richards (1952) ở Châu Phi, Taylor (1954), Benard (1955) xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần phải bổ sung bằng cách trồng rừng.
Các tác giả nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới Châu Á nhƣ Budwski (1956), Bara (1954), Catinot 91965) lại cho rằng: Dƣới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lƣợng cây tái sinh có giá trị 14 kinh tế cao, do vậy các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ cây tái sinh sẵn có dƣới tán rừng. Các công trình nghiên cứu rừng tự nhiên chủ yếu đề cập đến cấu trúc, động thái, quy luật tái sinh và sinh thái chung của rừng tự nhiên, đã đi sâu vào nghiên cứu từng loài cây cụ thể với các đặc điểm nhƣ điều kiện phát sinh, phát triển đặc điểm tái sinh riêng cũng nhƣ khả năng phát triển của loài trong điều kiện nghiên cứu và khả năng nhân rộng ra ngoài khu vực nghiên cứu với những biện pháp cụ thể. Trên thế giới, loài Đinh hƣơng có phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Campuchia, Mailaixia, Lào và Việt Nam.