Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về sự hài lòng đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử; - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu; - Chương 3: Kết quả nghiên cứu; - Chương 4: Kiến nghị và giải pháp. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Dịch vụ ngân hàng điện tử đã được khá nhiều nghiên cứu đề cập đến. Cụ thể một số nghiên cứu ở Việt Nam như sau: Lưu Thanh Thảo (2008) đã tiến hành nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Á Châu.
Nghiên cứu này sử dụng các quan sát, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng như thống kê, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế để đánh giá thực trạng của việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Á Châu thời gian từ 2003 - 2007. Bên cạnh đó, nghiên cứu cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng điện tử, tính tất yếu phải phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam. Tác giả đã chỉ ra những thuận lợi cũng như bất lợi khi phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử và đề xuất các giải pháp cụ thể để phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ngày càng vững mạnh. Nghiên cứu của Nguyễn Duy Thanh và Cao Hào Thi (2011) đã đề xuất mô hình chấp nhận và sử dụng ngân hàng điện tử, E-BAM (E-Banking Adoption Model).
Khi đó, tác giả dựa trên các mô hình lý thuyết như: Lý thuyết hành động hợp lý (TRA), lý thuyết hành vi dự định (TPB), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT), lý thuyết phổ biến sự đổi mới (IDT), mô hình động lực thúc đẩy (MM) kết hợp với đặc điểm thực tế tại Việt Nam đã đề xuất mô hình chấp nhận và sử dụng E-Banking (E-BAM). Theo tác giả việc chấp nhận E-Banking là sự chấp nhận hệ thống E-Banking và ý định sử dụng E- Banking của khách hàng với các yếu tố ảnh hưởng như sau: hiệu quả mong đợi, khả năng tương thích, dễ dàng sử dụng, kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan, rủi ro trong giao dịch trực tuyến, hình ảnh ngân hàng và yếu tố pháp luật ảnh hưởng đến sự chấp nhận E-Banking, từ việc chấp nhận đến ý định sử dụng E-Banking của khách hàng. Ngoài ra, nghiên cứu có đưa ra giả thuyết về sự khác biệt của các yếu tố nhân khẩu học đến việc chấp nhận và ý định sử dụng E-Banking của khách hàng. Kết quả phân 5 tích cho thấy, sau khi phân tích nhân tố khám phá (EFA) rút trích ra 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chấp nhận và sử dụng E-Banking là BI (có 6 biến quan sát), PEU (có 5 biến quan sát), PE (có 4 biến quan sát), MIL (có 3 biến quan sát), PBC (có 3 biến quan sát), PRT (có 3 biến quan sát), C (có 3 biến quan sát) và SN (có 2 biến quan sát) sau đó tiến hành phân tích hồi qui với biến phụ thuộc là chấp nhận E-Banking (EBA).
Kết quả cho thấy 8 biến được đưa vào mô hình có ý nghĩa thống kê. Đồng thời tiến hành phân tích hồi qui với biến phụ thuộc là sử dụng E-Banking và cho kết quả có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng tỏ rằng, các biến ảnh hưởng đến chấp nhận là sử dụng E-Banking. Thêm vào đó, nghiên cứu đã thực hiện kiểm định sự khác biệt của các yếu tố nhân khẩu học đến việc chấp nhận và sử dụng E-Banking thông qua phân tích ANOVA.
Phạm Thu Hương (2012) đã nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế quốc tế. Tác giả đã hệ thống hóa một cách đầy đủ và chặt chẽ các lý luận về ngân hàng điện tử như dịch vụ ngân hàng điện tử, các nhân tố tác động đến sự phát triển dịch vụ. Đồng thời, nghiên cứu cũng đã phân tích thực trạng áp dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ở nước ta, đưa ra những phân tích về thuận lợi, khó khăn của việc áp dụng dịch vụ ngân hàng điện tử. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra những phân tích, so sánh kinh nghiệm áp dụng dịch vụ ngân hàng điện tử tại một số nước trên thế giới từ đó đưa ra những đề xuất và kiến nghị cho các ngân hàng tại Việt Nam.
Nguyễn Thuỳ Trang (2017) cho rằng đặc tính an toàn và tin cậy của dịch vụ NHĐT có vai trò lớn đối với sự phát triển của dịch vụ này do nhận thức về tính an toàn và tin cậy, bên cạnh khả năng đáp ứng và sự thuận tiện, là thành phần quan trọng tạo nên sự hài lòng của khách hàng. Khách hàng hài lòng ảnh hưởng tích cực đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ. Trong nghiên cứu của Hà Nam Khánh Giao (2019) về mức độ hài lòng của khách hàng sử dụng thẻ thanh toán tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả cho thấy mức độ hài lòng được tạo nên từ 4 nhân tố của dịch vụ NHĐT, đó là tính tin cậy, tính thuận tiện, khả năng giải quyết vấn đề và giá cả. 6 Lê Châu Phú (2019), trong nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức về tính dễ sử dụng và rủi ro trong giao dịch dịch vụ NHĐT và lòng trung thành của khách hàng, kết luận rằng nhận thức về rủi ro có tác động mạnh đến lòng trung thành của khách hàng, tiếp theo là nhận thức về tính dễ sử dụng.
Đây là 2 trong số các thành tố tạo thành nhận thức chung về dịch vụ NHĐT, tạo thành sự hài lòng của khách hàng. Bùi Văn Thụy (2019) nghiên cứu về sự hài lòng với dịch vụ NHĐT của khách hàng cá nhân ở Đồng Nai dựa trên khảo sát ý kiến của 432 khách hàng. Tác giả kết luận rằng, sự hài lòng liên quan đến 7 đặc tính về chất lượng của dịch vụ NHĐT là: tính hiệu quả, tính thiết kế của trang web, tính bảo mật, tính đáp ứng, tính bảo đảm, tính đồng cảm và tính ưu đãi của dịch vụ. Nguyễn Văn Thụy (2019) nghiên cứu về chất lượng và sự hài lòng với dịch vụ NHĐT của khách hàng của ngân hàng Vietcombank tại Thành phố Hồ Chí Minh của 347 khách hàng.
Tác giả chỉ ra 5 đặc tính của dịch vụ NHĐT là phương tiện hữu hình, hệ thống, tính tin cậy, tính đảm bảo, giá cả, trong đó yếu tố giá cả có vai trò quan trọng nhất đối với mức độ hài lòng của khách hàng. Trong khảo sát 225 khách hàng của Nguyễn Hồng Quân (2020) về sự hài lòng về chất lượng dịch vụ NHĐT tại ngân hàng thương mại Tiên Phong, tác giả cho thấy, 6 đặc tính của dịch vụ NHĐT có vai trò quan trọng đối với mức độ hài lòng của khách hàng là tính tin cậy, tính đáp ứng, phương tiện hữu hình, năng lực phục vụ, tính đồng cảm, giá cả dịch vụ, trong đó, tính tin cậy quan trọng nhất. Gần đây, khía cạnh cảm xúc trong sự hài lòng đã được quan tâm hơn trong trong nghiên cứu của Ngô Đức Chiến (2022). Tác giả cho rằng sự hài lòng là cảm giác vui, hạnh phúc khi sử dụng dịch vụ NHĐT.
Do đó, tác giả đã khảo sát một số cảm xúc tích cực trong thang đo 3 yếu tố về dịch vụ NHĐT, bao gồm vui, tin tưởng, hài lòng.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế Ngân hàng điện tử có thể cung cấp các dịch vụ nhanh hơn và đáng tin cậy hơn cho khách hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử không chỉ có thể tạo ra khả năng cạnh tranh tốt hơn cho ngân hàng, nó có thể phát triển tốt hơn nữa mối quan hệ với khách 7 hàng, tạo sự thỏa mãn cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Sau đây là một số nghiên cứu quốc tế: Nghiên cứu của Nupur (2010), nhằm mục đích hiểu tác động của các nhân tố dịch vụ của ngân hàng điện tử đến sự hài lòng của khách hàng ở Bangladesh. Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện từ cuộc khảo sát 250 khách hàng tại Bangladesh.
Phương pháp phân tích nhân tố khám phá, hồi qui bội được sử dụng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng. Mô hình nghiên cứu có 5 yếu tố chất lượng dịch vụ là “độ tin cậy”, “khả năng đáp ứng”, “sự đảm bảo”, “sự đồng cảm” và” các yếu tố hữu hình” được thiết lập dựa trên mô hình “SERVQUAL” và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. Các biến này đã được thử nghiệm trong ngân hàng điện tử để khám phá mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Nghiên cứu cũng khám phá rằng độ tin cậy, đáp ứng và đảm bảo có nhiều đóng góp hơn để đáp ứng khách hàng của ngân hàng điện tử ở Bangladesh.
Gommans & George (2014) đã đánh giá dịch vụ ngân hàng điện tử về sự hài lòng của khách hàng: Trường hợp của Ngân hàng Quốc gia Kenya cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự hài lòng của khách hàng với ngân hàng điện tử và đưa ra khuyến nghị. Mục tiêu chính của nghiên cứu là thiết kế web ngân hàng điện tử, thăm dò dịch vụ khách hàng ngân hàng điện tử, đánh giá bảo đảm ngân hàng điện tử và kiểm tra ưu đãi về hiệu quả của ngân hàng điện tử đối với sự hài lòng của khách hàng trong ngành ngân hàng. Kết quả cho thấy nhiều khách hàng hài lòng với hầu hết các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Quốc gia Kenya. Nghiên cứu của John & Rotimi (2014) đã thực hiện một phân tích về ngân hàng điện tử và sự hài lòng của khách hàng ở Nigeria.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xem xét tác động của ngân hàng điện tử đến sự hài lòng của khách hàng ngân hàng doanh nghiệp ở Nigeria. Nghiên cứu chứng tỏ rằng, có một mối quan hệ đáng kể giữa ngân hàng điện tử và sự hài lòng của khách hàng. Kết quả phân tích cho thấy, cơ sở hạ tầng, an ninh và viễn thông cần được tăng cường để đảm bảo áp dụng ngân hàng điện tử ở Nigeria. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra, có một sự cải thiện đáng kể trong các dịch vụ ngân hàng nói chung do sự ra đời của ngân hàng điện tử, trong khi lợi 8 nhuận mà các ngân hàng tạo ra có thể được quy một phần từ việc giới thiệu ngân hàng điện tử, đồng thời ngân hàng điện tử đã giúp tăng thị phần của ngân hàng.