chương 1, tác giả đã giới thiệu khái quát v`ênhững mục tiêu, ý nghĩa cũng như phương pháp nghiên cứu của đ ềtài. Trong chương 2 này, tác giả sẽ giới thiệu một số khái niệm, cơ sở lý thuyết có liên quan đã được công nhận trên thế giới cũng như các nghiên cứu tại Việt nam để từ đó rút ra những kết luận và đưa ra mô hình lý thuyết phục vụ cho nghiên cứu.1 Khái niệm chất lượng và dịch vụ c Parasuraman và các cộng sự (1985) đưa ra kết luận răng chât lượng dịch vụ có thê đo bằng khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dung qua dịch vụ. Những năm 1990 trở lại đây, trong các nghién ctru marketing dich vy, chất lượng dịch vụ thường được định nghĩa là việc đánh giá tông thế về một dịch vụ của khách hàng, (Eshphi và các cộng sự, 2008) hoặc mức độ mà một dịch vụ đáp ứng nhụ cầu hoặc mong đợi của khách hàng (Asubonteng và cộng sự, 1996). Còn theo quan điểm cua Philip Kotler và cộng sự (2005), chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó.
Theo Asubonteng và cộng sự, (1996), thì chất lượng dịch vụ có thê được định nghĩa là có thé được đo bằng sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng đối với dịch vụ trước khi trai nghiệm dịch vụ và nhận thức của họ về dịch vụ sau khi đã nhận. Lewis và Booms (1983) thì cho thây chất lượng dịch vụ là sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất. Từ trước những năm 1970, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng dich vy nhu Cardozo (1965), Howard va Sheth (1969), Olshvsky va Miller (1972), Olson va Dover (1976), Oliver (1977).
Tuy nhiên, các công trình nảy tiếp cận chất lượng dịch vụ thông qua suy diễn từ chất lượng sản phâm hàng hóa, các tiêu chi do lường chỉ thiên về các chỉ số kỹ thuật, chưa được kiểm chứng ở thực tiễn (Brady và Cronin, 2001) nên bị hạn chế. Đến những năm 1980, một số công trình nghiên cứu về chất lượng dịch vụ được công bố, trong đó, có nhiều công trình nghiên cứu mang tính nền tảng cho việc nghiên cứu về chất lượng dịch vụ như Lehtinen và Lehtinen (1982) với Chất lượng dịch vụ: Một nghiên cứu về kích thước chất lượng, Gronroos (1984) với Mô hình chất lượng dịch vụ và những ứng dụng của nó trong marketing, Parasuraman và 5 cộng sự (1985) với Mô hình nhận thức về chất lượng dịch vụ và ứng dụng cho việc nghiên cứu tương lai,. Các nghiên cứu này đã có cách tiếp cận mới đối với chất lượng dịch vụ, tiếp cận từ cảm nhận và đánh giá của khách hàng đối với dịch vụ của nhà cung AH cap. Tom lai, theo TCVN ISO 9000:2000: “Chat lượng dịch vụ là mức độ của một tập hợp các đặc tinh vốn có của dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu, mong đợi của khách hàng và các bên có liên quan” 2.2_ Khái niệm mua sắm online , ; Theo Kotler (2012), mua săm online (thường được øọi mua săm trực tuyên) là việc mua hảng thông qua những kết nối điện tử giữa người mua và người bán- thường là trực tuyến.
Vốn không mấy phô biến cách đây mười lăm năm, giờ đây, mua sắm trực tuyến được xem là thủ tục chuẩn mực cho hầu hết các doanh nghiệp. Mua sắm trực tuyến cho phép người mua liên hệ với các nhà cung cấp mới, cắt giảm chi phí mua, nhanh chóng xử lý đơn hàng. Đồng thời, các chuyên gia tiếp thị có thể kết nối trực tuyến với khách hàng để chia sẻ thông tin marketing, bán sản phâm và dịch vụ, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và duy trì mỗi quan hệ hiện hữu với khách hàng. Theo Bủi Thanh Tráng (2014) mua sắm online là một quá trình mà khách hàng mua trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ từ một người bán trong một thời øIan xác thực thông qua Internet, không qua dịch vụ trung gian, nó là một dạng của thương mại điện tử.
Mua sắm trực tuyến mang lai loi ich cho ca người mua và người bán về phương điện tìm kiếm khách hàng, thông tin san pham, qua trình tương tác và phân phối sản phẩm. Người mua có thể mua hàng ở bắt cứ đâu, bất kế thời gian nào, ngay cả khi ở nhà và dễ dàng tiếp cận các nhà cung cấp. Người mua cũng không cần phải rời khỏi nhả để mua hàng hay nhận hàng vả có thê theo dõi được việc giao nhận hàng hóa.1 Khái niệm sự hài lòng trong mua sấm online ; Hemon & Whitwan (2001) cho răng sự hài lòng của khách hàng trực tuyên là phản ứng của khách hàng mà họ nhận được khi sử dụng các dịch vụ trực tuyến. Anderson & Srintvasan (2003) định nghĩa sự hài lòng về dịch vụ điện tử là khi có được sự thỏa mãn của khách hàng đối với kinh nghiệm mua trước đó với một công ty cung cấp dịch vụ thương mại điện tử.
Theo Myers & Mintu-Wimsatt (2012) sự hải lòng trong mua sắm online bắt nguồn từ sự hài lòng khi mua hàng trực tuyến và những trải nghiệm của khách hàng.3 Khái niệm về thương mại điện tử Thuong mai dién tu (Wikipedia, 2014): la sy mua ban san pham hay dich vu trén cac hé thong điện tử như Internet và các mạng máy tính. Thương mại điện tử dựa trên một số công nphệ như chuyền tiền điện tử, quản ly chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thi Internet, quá trình giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho, và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu. Thương mại điện tử hiện đại thường sử dụng mạng World Wide Web là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể bao gồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị đi động cũng như điện thoại. Thương mại điện tử thông thường được xem ở các khía cạnh của kinh doanh điện tử (e- business).
Nó cũng bao gồm việc trao đổi dữ liệu tạo điều kiện thuận lợi cho các nguồn tài chính và các khía cạnh thanh toán của viéc giao dich kinh doanh. Các loại hình giao dịch thươnng mại điện tử (Nguyên Đăng Hậu, 2004) Trong thương mại điện tử có ba chủ thể tham gia: Doanh nghiệp (B) giữ vai trò động lực phát triển thương mại điện tử, người tiêu đùng (C) giữ vai trò quyết định sự thành công của thương mại điện tử và chính phủ (G) giữ vai trò định hướng, điều tiết và quản lý. Từ các mối quan hệ giữa các chủ thể trên ta có các loại giao dịch thương mại điện tử: B2B, B2C, B2G, C2G, C2C. trong đó B2B và B2C là hai loại hình giao dịch thương mại điện tử quan trọng nhất.
Lợi ích của thương mại điện tứ (Nguyễn Đăng Hậu, 2004) 2.1 Thu thập được nhiêu thông tim Thương mại điện tử giúp người tham gia thu được nhiều thông tin về thị trường, đối tác, giảm chỉ phí tiếp thị và giao dịch, rút ngắn thời gian sản xuất, tạo dựng và củng cố quan hệ bạn hàng. Các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về kinh tế thị trường, nhờ đó có thé xây dựng được chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiện nay đang được nhiều nước quan tâm, coi là một trons những động lực phát triển kinh tế.2 Giảm chỉ phí sản xuất Thương mại điện tử giúp giảm chí phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng. Các văn phòng không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyền giao tải liệu giảm nhiều lần (ong đó khâu in ấn hầu như được bỏ hắn), theo số liệu của hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng này đạt tới 30%.
Điều quan trọng hơn, với góc độ chiến lược, là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài. Giảm chỉ phí bán hàng, tiếp thị và giao dịch Thương mại điện tử giúp giảm thấp chí bán hàng và chỉ phí tiếp thị. Bằng phương tiện Internet / web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với ratnhiéu khach hang, catalogue dién tir (electronic catalogue) trên web phong phú hon nhiéu va thuong xuyén cap nhat so voi catalogue in an chi c6 khu6én khé gidi hạn và luôn luôn lỗi thời. Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, đã có tới 50% khach hang đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và nhiều các đơn hàng về lao vụ kỹ thuật), và mỗi ngảy giảm được 600 cuộc gọi điện thoại.
Thương mại điện tử qua Internet / web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm dang ké thoi gian và chí phí giao dịch (giao dịch được hiểu là từ quá trình quảng cáo, tiếp xúc ban dau, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán). Thời gian giao dịch qua Internet chi bằng 7% thời gian giao dịch qua fax, và bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện chuyên phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng từ 10% đến 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường. Tổng hợp tất cả các lợi ích trên, chu trình sản xuất (cycle time) được rút ngắn, nhờ đó sản phẩm mới xuất hiện nhanh và hoàn thiện hơn. Xây dựng quan hệ với doi tác Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cô mối quan hệ giữa các thành viên tham gia vào quá trình thương mại: thông trực tuyến Internet / web các thành viên tham øi1a (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ.
) có thé giao tiép trực tiếp (liên lạc “ trực tuyến”) và liên tục với nhau, có cảm giác như không có khoảng cách về địa lý và thời gian nữa; nhờ đó sự hợp tác và sự quản ly đều được tiễn hành nhanh chóng một cách liên tục: các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế ĐIỚI, và CÓ nhiều cơ hội đề lựa chọn hơn.