ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, do chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước với hàng loạt các biện pháp kích thích sản xuất, nền nông nghiệp nước ta đã có những bước tiến nhảy vọt. Quyết tâm của Chính phủ trong việc phát triển đàn bò thịt nước ta cả về số lượng và chất lượng được thể hiện trong quyết định số 10/2008/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó đến năm 2020, đàn bò thịt cả nước đạt khoảng 12,5 triệu con, trong đó tỷ lệ bò lai và lai chuyên thịt đạt trên 50%, sản lượng thịt bò ước đạt 200.000 tấn, chiếm tỷ lệ 4% trong tổng sản lượng thịt xẻ các loại. Ngành chăn nuôi của cả nước có những bước phát triển rất mạnh.
Trong đó, chăn nuôi gia súc nhai lại (GSNL) chiếm vị trí hết sức quan trọng. Theo Cục Chăn nuôi (2014) tổng đàn bò nước ta năm 2014 là 5.700 con, đàn trâu là 2.500 con, đàn dê, cừu là 1.Tổng đàn bò, dê, cừu của cả nước trong những năm gần đây có xu hướng tăng, còn tổng đàn trâu có xu hướng ổn định. Trong khi đàn trâu bò tăng theo từng năm thì quỹ đất dành cho chăn nuôi lại không tăng lên. Lượng thức ăn thô cần để đáp ứng cho đàn GSNL là 150 triệu tấn/năm, nhưng lượng cỏ trồng và cỏ tự nhiên không đáp ứng được nhu cầu trên nên đàn gia súc thường bị thiếu thức ăn thô, đặc biệt vào mùa khô khi mà cây cỏ sinh trưởng, phát triển kém.
Thiếu thức ăn thô dẫn đến hiệu quả kinh tế của chăn nuôi GSNL thấp do năng suất vật nuôi thấp, do phải sử dụng thức ăn tinh giá cao, do tỷ lệ chết vì đói và rét cao … Một điều thuận lợi là nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới, cây trồng đa dạng, các loại hoa màu, canh tác lúa nước phát triển… Điều này dẫn tới một nguồn phụ phẩm nông nghiệp phong phú, khối lượng lớn: Hàng triệu tấn rơm, thân cây ngô già sau thu bắp, thân lá cây lạc, ngọn lá mía, dây khoai lang… Nguồn phụ phẩm này chỉ có sẵn trong thời gian ngắn theo mùa vụ nên người chăn nuôi chỉ sử dụng được một phần rất nhỏ làm thức ăn cho GSNL, phần còn lại chủ yếu đốt bỏ hoặc để lãng phí ngoài đồng. Nhiều nghiên cứu đã được triển khai nhằm khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn phụ phẩm nông, công nghiệp trong nuôi dưỡng và vỗ béo bò thịt (Trương La, 2008; Phạm Thế Huệ, 2008; Văn Tiến Dũng, 2010 .) nhưng thực tế vẫn chưa triển khai sâu rộng tới người chăn nuôi. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chăn nuôi gia súc nhai lại ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình với tổng đàn bò 13.052 con, đàn trâu 8.407 con, đàn dê 7. Diện tích trồng cỏ để phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại của huyện bị hạn chế về quỹ đất, nhưng huyện có diện tích rất lớn cấy lúa, cây hoa màu với khối lượng phụ phẩm nông nghiệp đáng kể.
Hiện tại khối lượng phụ phẩm nông nghiệp này được sử dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại còn ít mà bị bỏ lãng phí ngoài đồng ruộng. Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Điều tra nguồn phụ phẩm nông nghiệp và sử dụng rơm kiềm hóa với urê, thân lá lạc khô chăn nuôi bò vỗ béo tại Huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu nhằm xác định khối lượng và tình trạng sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu bò, đồng thời thử nghiệm sử dụng 2 nguồn phụ phẩm chính là rơm kiềm hóa và thân lá cây lạc trong khẩu phần ăn nuôi vỗ béo bò. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1.
Ý nghĩa khoa học Số liệu thu được của đề tài góp phần đánh giá khả năng sử dụng rơm lúa và thân lá cây lạc trong khẩu phần vỗ béo bò tại nơi chăn nuôi có ít cỏ tươi. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài giúp xác định được khối lượng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp, tình trạng sử dụng cũng như các hạn chế/trở ngại trong việc sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho GSNL tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp trên. - Kết quả thu được của đề tài có thể đem khuyến cáo người chăn nuôi nhân rộng mô hình, góp phần phát triển kinh tế gia đình nhờ vào chăn nuôi GSNL không cần có diện tích trồng cỏ lớn. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA BÒ 2. Sinh trưởng theo giai đoạn và đường cong sinh trưởng Sinh trưởng là sự tăng kích thước, khối lượng của tế bào, mô, hay bộ phận cơ quan trong cơ thể. Sinh trưởng của gia súc được đặc trưng bởi tốc độ sinh trưởng, độ dài sinh trưởng và được đánh giá bằng khối lượng và kích thước các chiều đo cơ thể.
Sinh trưởng là tính trạng số lượng chịu tác động của hai yếu tố di truyền, ngoại cảnh và mối quan hệ phức tạp của chúng. Hệ số di truyền của tính trạng này là: h2 = 0,3 đến 0,6. Sinh trưởng của gia súc có thể chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn bào thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ). Giai đoạn ngoài thai lại có thể chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ bú sữa và thời kỳ sau cai sữa.
Sự tăng trưởng ở giai đoạn bào thai chịu ảnh hưởng nhiều của mẹ, còn ở giai đoạn ngoài thai thì chịu ảnh hưởng của tính di truyền đời trước nhiều hơn (tất nhiên trong mối liên quan với điều kiện ngoại cảnh, vì cơ thể và môi trường là một khối thống nhất). Nhìn chung sinh trưởng theo giai đoạn có liên quan mật thiết với sự phát triển của các bộ phận cơ thể: giai đoạn đầu thường xương phát triển mạnh nhất, sau đó đến thịt và mỡ, giai đoạn tiếp theo thường thịt phát triển mạnh sau đó đến xương và mỡ, còn giai đoạn sau thì mỡ phát triển mạnh nhất sau đó đến thịt và xương. Ở đại gia súc thì Gartner (1922) (trích theo Trịnh Văn Trung, 2007), chia sinh trưởng ở giai đoạn sau bào thai ra bốn pha về mặt kích thước: năm thứ nhất chiều cao, năm thứ hai chiều dài và rộng, năm thứ 3 chiều rộng và năm thứ 4 chiều sâu và rộng. Tương tự những con gia súc khác, đường cong sinh trưởng của bò có thể chia ra 2 pha rõ rệt: - Pha tăng khối lượng cao xảy ra từ sơ sinh đến trước khi thành thục về tính (khoảng 30 tháng tuổi) với điều kiện nuôi dưỡng hợp lý.
- Pha tăng khối lượng thấp, tỷ lệ sinh trưởng giảm dần cho đến lúc bò trưởng thành (khoảng 6-7 năm tuổi), khối lượng cơ bản ổn định. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên tốc độ sinh trưởng của bò phụ thuộc vào giống, điều kiện chăm sóc và chế độ dinh dưỡng. Bò nội của ta được nuôi ở gia đình nông dân, chăn thả tự do là chính, ngoài ra có bổ sung thêm rơm rạ tại chuồng, chủ yếu trong mùa đông. Bò có khối lượng sơ sinh 20-25kg, lúc 1 năm tuổi đạt 120-140kg, lúc 2 năm tuổi đạt 200-220kg.
Bắt đầu từ thời điểm này bò được huấn luyện cho cày kéo hoặc vỗ béo lấy thịt là thích hợp. Nếu được nuôi dưỡng tốt bò có thể cho tăng khối lượng cao hơn, đạt 500-700 gam/ngày ở năm thứ nhất, 600-800 gam/ngày ở năm thứ hai, thời kỳ vỗ béo có thể tăng khối lượng 800-1000 gam/ngày. Có thể nói sinh trưởng của gia súc chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền, mức độ dinh dưỡng, quản lý chăm sóc, tính biệt, thời tiết, mùa vụ. Hiểu biết được đặc điểm, quy luật phát triển theo giai đoạn và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng có ý nghĩa quan trọng cho người chăn nuôi trong sản xuất để có biện pháp tác động tốt nhất vào các yếu tố trong từng giai đoạn phát triển của gia súc, nhằm thu được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.
Sinh trưởng, phát triển không đều Điểm nổi bật nhất trong sự phát triển của cơ thể gia súc là sự sinh trưởng, phát triển không đều. Đặc điểm đó thường thể hiện ở sự thay đổi rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường độ tăng khối lượng của cơ thể tuỳ theo tuổi. Ví dụ: ở cơ quan tiêu hoá lúc sơ sinh các dạ trước rất nhỏ, chứng tỏ sự phát triển chậm của chúng trong giai đoạn bào thai, trái lại dạ múi khế có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cũng như tương đối đều cao trong giai đoạn bào thai. Sau khi sinh sự phát triển ngược lại hẳn, dạ trước tăng khoảng 100-200 lần, trong khi đó dạ múi khế chỉ tăng 4-8 lần.
Sự phát triển không đồng đều còn thể hiện ở thể vóc, trao đổi chất… Thể vóc chủ yếu do hệ cơ và hệ xương tạo nên. Trong giai đoạn bào thai mô xương có cường độ phát triển mạnh nhất, còn sau khi sơ sinh tốc độ phát triển của mô xương giảm xuống nhưng mô cơ lại tăng lên. Từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi khối lượng cơ thể bê nghé tăng 16 lần, khối lượng xương tăng 8,7 lần còn cơ tăng 18,6 lần. Trao đổi chất: Cơ thể non có cường độ tổng hợp protein mạnh.
Tuổi càng tăng thì khả năng này giảm xuống cùng với sự thay đổi cơ cấu của các loại 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ở con vật non nucleoprotein chiếm tỷ trọng lớn, khi tuổi tăng lên cơ thể tích luỹ nhiều các protein có chức năng đặc hiệu với khả năng tự đổi mới thấp. Sinh trưởng theo chu kỳ Sự phát triển của cơ thể gia súc và của từng bộ phận trong cơ thể gia súc qua các thời kỳ có những đặc điểm khác nhau. Tính chất không đồng đều của nhịp độ phát triển rất phù hợp sự hoạt động hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh, với sự đồng hoá và dị hoá có thời kỳ mạnh, có thời kỳ yếu của cơ thể, và cũng từ tính chất không đồng đều của hệ thần kinh và quá trình trao đổi chất mà sự sinh trưởng của gia súc chịu ảnh hưởng cũng đi theo nhịp độ lúc yếu, lúc mạnh.
Biểu hiện rõ nhất là tốc độ tăng khối lượng cơ thể. Có những thời kỳ đối với gia súc mức tăng khối lượng hàng ngày cao nhưng sau đó lại thấp. Tăng khối lượng nhiều hay ít chính là do sự cân bằng của các quá trình oxy hoá khử trong sự trao đổi chất có đều hay không.