CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT ĐÔ THỊ 1. Đô thị và sử dụng đất đô thị 1.1 Khái niệm về đô thị Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu đô thị, mỗi cách lại đưa ra những nhận định khác nhau về đô thị. Dưới đây là một số định nghĩa về đô thị: Một đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Các đô thị có thể là thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc, nhưng thuật từ này thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp.
Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa. Đo đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị, và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị. Không như một đô thị, một vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn bao gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh có liên hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lõi, tiêu biểu là mối quan hệ từ công ăn việc làm đến việc di chuyển hàng ngày ra vào mà trong đó thành phố đô thị cốt lõi là thị trường lao động chính. Thật vậy, các đô thị thường kết hợp và phát triển như trung tâm hoạt động kinh tế/dân số trong một vùng đô thị lớn hơn.
Các vùng đô thị thường thường được định nghĩa bằng việc sử dụng các quận (như ở Hoa Kỳ) hoặc các đơn vị chính trị cấp quận làm đơn vị nền tảng. Quận có chiều hướng hình thành các ranh giới chính trị bất di bất dịch. Các kinh tế gia thường thích làm việc với các thống kê xã hội và kinh tế dựa vào các vùng đô thị. Các đô thị được dùng để thống kê thích hợp hơn trong việc tính toán việc sử dụng tỉ lệ đất quân bình trên đầu người và mật độ dân cư (theo Dumlao & Felizmenio 1976).
Nguồn: Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (http://vi.org/wiki/%C4%90%C3%B4_th%E1%BB%8B ) 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo Luật Quy hoạch đô thị được Quốc hội thông qua năm 2009: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. - Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP, một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau: 1. Có chức năng đô thị. Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên.
Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu phố xây dựng tập trung. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động. Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật). Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị.
Tại Việt Nam hiện có 6 loại đô thị: loại đặc biệt và loại I, loại II đến loại V. Khái niệm về khu đô thị và hạ tầng kỹ thuật, xã hội đô thị: + Khu đô thị: Khu đô thị là khu vực xây dựng một hay nhiều khu chức năng của đô thị, được giới hạn bởi các ranh giới tự nhiên, ranh giới nhân tạo hoặc các đường chính đô thị. Khu đô thị bao gồm: các đơn vị ở; các công trình dịch vụ cho bản thân khu đô thị đó; có thể có các công trình dịch vụ chung cho toàn đô thị hoặc cấp vùng. Cấu trúc của khu đô thị và đô thị là gồm hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội đô thị.
+ Hạ tầng kỹ thuật đô thị gồm các công trình sau: 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hệ thống giao thông; - Hệ thống cung cấp năng lượng; - Hệ thống chiếu sáng công cộng; - Hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước; - Hệ thống quản lý các chất thải, vệ sinh môi trường; - Hệ thống nghĩa trang; - Các công trình hạ tầng kỹ thuật khác. + Hạ tầng xã hội đô thị gồm các mục sau: - Các công trình nhà ở; - Các công trình công cộng, dịch vụ: y tế, văn hoá, giáo dục, thể dục thể thao,thương mại và các công trình dịch vụ đô thị khác; - Các công trình quảng trường, công viên, cây xanh, mặt nước; - Các công trình cơ quan hành chính đô thị; - Các công trình hạ tầng xã hội khác. Tức là phải đủ các công trình và hạng mục công trình như vậy mới được gọi là đô thị. Tuy nhiên đối chiếu với thực tế hiện nay các khu đô thị của chúng ta hầu như không được coi là đô thị hay khu đô thị thực sự.2 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sử dụng đất đô thị 1.1 Khái niệm đất đô thị Đất đô thị là đất thuộc khu vực nội thành, nội thị xã, thị trấn được quy hoạch sử dụng làm nhà ở, trụ sở các cơ quan tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng an ninh và các mục đích khác của xã hội.
Ngoài ra theo quy định các loại đất ngoại thành, ngoại thị xã đã có quy hoạch của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để phát triển đô thị cũng được tính vào đất đô thị. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội chủ yếu ảnh hưởng đến sử dụng đất đô thị - Vị trí địa lý: đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đô thị. Nơi có vị trí thuận tiện thì việc đầu tư và tận dung những nguồn lực đất đai, lao động cũng như khai thác tiềm năng đất đai sẽ có ưu thế hơn. - Địa hình: Là một trong những yếu tố quyết định đến việc sử dụng đất, đặc biệt đối với mục đích nông, lâm nghiệp.
Đối với đất phi nông nghiệp thì địa hình phức tạp sẽ dẫn đến nhiều khó khăn cho việc xây dựng công trình và thi công. - Điều kiện khí hậu, thủy văn: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng đất cho các mục đích sản xuất, kinh doanh và điều kiện sinh hoạt của con người. Sự khác nhau về nhiệt độ giữa các vùng ảnh hưởng đến sự phân bố thực vật, cây trồng. Lượng mưa nhiều hay ít cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu sinh hoạt.
Hệ thống sông suối, ao hồ có vai trò nhất định trong việc tổ chức sử dụng đất đai đô thị. Chúng vừa là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới vừa là nơi tiêu thụ nước khi có úng ngập. Thảm thực vật tự nhiên: Thảm thực vật tự nhiên là một yếu tố môi trường có vai trò rất quan trọng. Thảm thực vật bao gồm các vùng rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng sản xuất, đồng cỏ.Thảm thực vật tự nhiên là yếu tố điều tiết khí hậu, chế độ nước của sông suối, chế độ nhiệt, độ ẩm trong đất, chế độ nước ngầm.
Thảm thực vật tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp, làm nơi du lịch, nghỉ mát. Thảm thực vật có ý nghĩa quan trọng trong việc quy hoạch vùng đô thị. - Yếu tố không gian: Mọi ngành sản xuất vật chất và phi vật chất đều cần đất đai cũng như điều kiện không gian để hoạt động. Mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc sử dụng đất các công trình công nghiệp, thương mại, dịch vụ và phục vụ cho mục đích ở.
Mặt bằng đất đai còn là yếu tố quan trọng cho việc quy hoạch, phát triển các khu đô thị mới. - Các yếu tố kinh tế - xã hội: Bao gồm các yếu tố như dân số và lao động; cơ cấu các ngành kinh tế; mức độ tăng trưởng kinh tế và sự phát triển từng ngành; hiện 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trạng cơ sở hạ tầng; trình độ khoa học công nghệ; trình độ quản lý và tổ chức sản xuất của nông dân và chế độ chính trị xã hội ( các chính sách về đất đai, chính sách môi trường, các yêu cầu về an ninh quốc phòng.) Yếu tố kinh tế xã hội thường có ý nghĩa quyết định đối với việc sử dụng đất. Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định tiềm năng và mức độ thích hợp của đất đai đối với các mục đích sử dụng. Còn việc sử dụng đất như thế nào được quyết định bởi con người và các điều kiện kinh tế xã hội hiện có.3 Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị Đô thị hoá theo hàm nghĩa chung nhất là quá trình phát triển kinh tế - xã hội song song với quá trình công nghiệp hoá và cách mạng khoa học công nghệ, tập trung dân số và sức lao động phân tán của nông thôn và hoạt động phi nông nghiệp không ngừng hội tụ trên không gian thích hợp dần dần chuyển hoá thành yếu tố đô thị.
Theo Brain Berry (1976) “ Đô thị hoá được coi như sự tập trung có tính không gian của con người và các hoạt động kinh tế. Nhưng đô thị hoá có hai mặt ý nghĩa, ý nghĩa thứ nhất liên quan đến quá trình tập trung dân cư - khi dân số chuyển từ vùng thưa dân đến vùng đông dân hơn; ý nghĩa thứ hai liên quan đến văn hoá và lối sống của người dân - lối sống thành thị, văn hoá hiện đại và dấu hiệu của sự văn minh, bắt nguồn từ các thành phố lớn rồi lan toả ra các đô thị nhỏ hơn hay thậm chí là vùng nông thôn ’’[ 17].