Tổng quan luận án
Vùng ven biển tỉnh Nam Định bao gồm 3 huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng, chiếm 34,1% tổng dân số toàn tỉnh. Đây là khu vực có vị trí địa lý đặc thù, giàu tiềm năng tài nguyên biển và đất ngập nước ven bờ. Trong giai đoạn 2010 – 2015, các huyện ven biển đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 10% đến 14%/năm (cao hơn mức bình quân chung của toàn tỉnh), đồng thời tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 2% đến 3%/năm. Mặc dù vậy, sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển Nam Định đang đối mặt với nhiều yếu tố kém bền vững. Sự suy giảm nguồn lợi tự nhiên, tính nhạy cảm sinh thái của dải ven bờ, sự gia tăng thiên tai và biến đổi khí hậu cùng với các bất cập trong công tác quy hoạch, khai thác tài nguyên và phân bổ nguồn lực đã tạo ra xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, làm gia tăng nguy cơ tái nghèo.
Khoảng trống nghiên cứu thực tế cho thấy, phần lớn các công trình trước đây tại khu vực này chỉ tập trung vào tài nguyên sinh thái cục bộ tại Vườn quốc gia Xuân Thủy hoặc đánh giá tác động đơn lẻ của biến đổi khí hậu, chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa sinh kế và nghèo đa chiều dưới góc độ địa lý kinh tế – xã hội và phân hóa không gian trên toàn bộ dải ven biển của tỉnh.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích dưới góc độ địa lý các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế và nghèo, hiện trạng sinh kế và nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định nhằm phát hiện những vấn đề tồn tại, từ đó tìm ra các giải pháp thúc đẩy phát triển sinh kế và giảm nghèo bền vững cho khu vực.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu chính:
- Các sinh kế tại các huyện ven biển Nam Định đang chịu ảnh hưởng của những nhân tố nào, hiện nay đang phát triển ra sao và có tác động gì đến tình trạng nghèo của các địa phương?
- Các hộ gia đình tại các huyện ven biển Nam Định đang sử dụng những nguồn vốn nào để thực hiện chiến lược sinh kế và đạt được kết quả sinh kế ra sao? Các sinh kế có mối quan hệ như thế nào với tình trạng nghèo của các hộ gia đình tại địa phương?
- Những giải pháp nào cần được thực hiện nhằm phát triển sinh kế và giảm nghèo tại các huyện ven biển Nam Định?
Hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng bao gồm:
- Đúc kết, hệ thống hóa cơ sở lý luận về sinh kế và nghèo; xác định các nhân tố ảnh hưởng và các tiêu chí đánh giá sinh kế và nghèo; phân tích các đặc điểm sinh kế và nghèo ở vùng ven biển.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế và nghèo; phân tích hiện trạng và sự phân hóa không gian của các sinh kế và nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định; đánh giá mối quan hệ giữa sinh kế và nghèo tại các địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sinh kế và giảm nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh kế, hiện trạng nghèo và mối quan hệ giữa các nguồn vốn sinh kế, chiến lược sinh kế với kết quả giảm nghèo của cộng đồng và hộ gia đình.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn 3 huyện ven biển tỉnh Nam Định gồm 82 xã, thị trấn: Giao Thủy (22 xã, thị trấn, trong đó có 9 xã giáp biển), Hải Hậu (35 xã, thị trấn, trong đó có 6 xã giáp biển) và Nghĩa Hưng (25 xã, thị trấn, trong đó có 4 xã giáp biển). Luận án đi sâu nghiên cứu trường hợp tại 3 xã giáp biển đại diện: Giao Xuân (huyện Giao Thủy), Hải Chính (huyện Hải Hậu) và Nghĩa Hải (huyện Nghĩa Hưng), đồng thời đặt trong mối tương quan với toàn tỉnh Nam Định và vùng duyên hải Đồng bằng Sông Hồng.
- Phạm vi thời gian: Các phân tích định tính được thu thập trong giai đoạn 2000 – 2015, định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; các chuỗi dữ liệu thống kê tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2010 – 2015; điều tra thực địa hộ gia đình được tiến hành vào các tháng 6, 7, 8 năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm luận một hệ thống tài liệu nghiên cứu phong phú trong nước và quốc tế xoay quanh các trục nội dung chính:
Về lý thuyết sinh kế và sinh kế bền vững:
- Khái niệm sinh kế được hình thành từ báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987), sau đó được hoàn thiện bởi Conway Chambers (1992), Ashley và Carney (1999), Frank Ellis (1999, 2000), DFID (2001). Miranda Cahn (2002) bổ sung các yếu tố văn hóa, truyền thống và giới khi vận dụng khung sinh kế tại khu vực Thái Bình Dương.
- Khung sinh kế bền vững (SLA) được phát triển qua các công trình của Ian Scoones (1998) cho khu vực nông thôn, DFID (2001) cho khung tổng quát, Koos Neefjes (2003) gắn với môi trường, Tổ chức IMM (2004) điều chỉnh cho vùng ven biển, và Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD, 2004) qua nghiên cứu của Julian Hamilton-Peach và Philip Townsley.
- Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Sửu (2010) tổng hợp cơ sở lý luận về khung sinh kế bền vững; Chu Mạnh Trinh (2008) phân tích mối quan hệ giữa sinh kế cộng đồng và đồng quản lý tài nguyên; Mạng lưới các trung tâm NTTS Châu Á – Thái Bình Dương (NACA, 2006) nghiên cứu sinh kế thủy sản. Các nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu có Nguyễn Tường Huy (2013) tại đầm Nha Phu (Khánh Hòa), Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016) tại Vườn quốc gia Cát Tiên, Nguyễn Đăng Hào (2010) tại Thừa Thiên Huế, Dương Văn Sơn (2008) tại Bắc Kạn, Angus McEwin và cộng sự (2007) về bảo tồn biển, Nguyễn Xuân Mai và Nguyễn Duy Thắng (2011) tại Thanh Hóa, Khánh Hòa, Sóc Trăng. Tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu đến sinh kế ven biển được khảo sát bởi Nguyễn Trọng Xuân, Trần Hoàng Sa, Võ Hồng Tú, Nguyễn Duy Cần, nhóm nghiên cứu DFID - UNDP - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2011).
Về nghèo và tiêu chí đo lường nghèo:
- Các nghiên cứu của A. Hagenaars (1986), Yujiro Hayami và Yoshihisa Godo (2005), UNDP (1997), Ngân hàng Thế giới (WB, 2000, 2004, 2008, 2012), AusAID (2002), Jonathan Bradshaw và David Gordon (1998), Lorenzo Giovanni Bellù và Paolo Liberati (FAO, 2005) đã mở rộng định nghĩa nghèo từ thiếu hụt thu nhập đơn thuần sang góc độ đa chiều, bao gồm phúc lợi, vị thế xã hội và quyền con người.
- Frank Ellis và H.Ade Freeman (2005), Mahmood Hasan Khan (2001), Đặng Nguyên Anh (2015), ActionAid Việt Nam (2003, 2012) nhấn mạnh nhận thức về nghèo xuất phát từ cảm nhận của người dân.
- Tại Việt Nam, các cơ quan quản lý áp dụng song song chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê – WB và chuẩn nghèo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ, TB&XH), bắt đầu chuyển sang tiếp cận nghèo đa chiều từ năm 2015.
Về mối quan hệ giữa sinh kế và nghèo:
- Kakwani và Pernia (2000), Chen Ravallion, Rainer Klump và Thomas Bonschab (2004) đưa ra khái niệm tăng trưởng vì người nghèo. Nicholas Minot, Bob Baulch và Michael Epprecht (2003), UNDP (2004), Fréderique Sachwald và cộng sự (2003), SDC (2007), SIDA (2001), Stephen Morse (2009), Anirudh Krishna (2002), Keijiro Otsuka (2009), IUCN và IISD (2003) chỉ ra sự phụ thuộc của việc giảm nghèo vào năng lực tiếp cận các nguồn vốn sinh kế.
- Ở trong nước, các nghiên cứu của Nhóm hành động chống nghèo (2003), Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2011), Phạm Đình Phùng, Mai Lan Phương và Đỗ Thị Nhài (2012), Lê Quốc Hội (2009), Nguyễn Minh Tú và Trương Hoàng Minh (2007) khẳng định bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn vốn sinh kế là rào cản lớn đối với mục tiêu thoát nghèo.
Về địa bàn ven biển tỉnh Nam Định:
- Các nghiên cứu sinh kế và tài nguyên tập trung tại Vườn quốc gia Xuân Thủy gồm có: Viện phát triển các nguồn vốn ven biển Á Châu tại Việt Nam và Ban quản lý VQG Xuân Thủy (2009), Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định (2008), Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), MCD (2006), Hoàng Văn Thắng và Đặng Anh Tuấn (2004), Phạm Đình Trọng (2005), Nguyễn Xuân Thành (về nuôi ngao). Luận án Tiến sĩ Kinh tế học của Vũ Thị Hoài Thu (2013) nghiên cứu tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng của sinh kế ven biển trước biến đổi khí hậu.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
- Tính liên kết hệ thống: Khắc phục sự phân tích rời rạc giữa các thành phần của khung phân tích sinh kế, đặt các nguồn vốn, thể chế, chiến lược và kết quả sinh kế vào mối quan hệ hữu cơ đa chiều.
- Phương pháp tiếp cận nghèo: Vận dụng cách tiếp cận nghèo đa chiều thay vì chỉ đánh giá đơn chiều dựa trên thu nhập, phân tích sâu các chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
- Bản chất mối quan hệ sinh kế – nghèo: Làm rõ mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa sinh kế và nghèo (sinh kế tạo kết quả giảm nghèo, đồng thời trạng thái nghèo quy định năng lực tích lũy và lựa chọn chiến lược sinh kế).
- Phân hóa không gian lãnh thổ: Mở rộng địa bàn phân tích ra toàn bộ dải ven biển Nam Định thay vì chỉ khu biệt ở vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy, làm nổi bật sự khác biệt về địa lý, cơ cấu ngành nghề và các nhân tố kinh tế – xã hội của từng địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên khung lý thuyết và các quan điểm tiếp cận khoa học địa lý:
- Khung phân tích sinh kế: Luận án vận dụng và điều chỉnh khung sinh kế bền vững của DFID (2001), tập trung vào cấu trúc tương tác giữa 5 nguồn vốn sinh kế (vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội), cấu trúc và quá trình thể chế (chính quyền, luật lệ, chính sách, tổ chức, văn hóa cộng đồng), bối cảnh dễ tổn thương (biến đổi tự nhiên, thiên tai, dịch bệnh), chiến lược sinh kế (hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy sản, muối, phi nông nghiệp, làm thuê, di cư) và kết quả sinh kế (tăng thu nhập, ổn định đời sống, giảm rủi ro, nâng cao an ninh lương thực, sử dụng bền vững tài nguyên).
- Bộ tiêu chí nghèo đa chiều: Áp dụng quy chuẩn xác định nghèo giai đoạn 2016 – 2020 của Việt Nam gồm 5 chiều nghèo và 10 chỉ số đo lường thiếu hụt: (1) Giáo dục (trình độ giáo dục người lớn, tình trạng đi học của trẻ em); (2) Y tế (tiếp cận dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế); (3) Nhà ở (chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân); (4) Điều kiện sống (nước sinh hoạt hợp vệ sinh, nhà tiêu hợp vệ sinh); (5) Tiếp cận thông tin (dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin).
- 4 quan điểm tiếp cận địa lý học: Quan điểm hệ thống, Quan điểm tổng hợp lãnh thổ, Quan điểm lịch sử – viễn cảnh, và Quan điểm phát triển bền vững (đánh giá trên cả 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường).
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp: Thu thập hệ thống niên giám thống kê, văn bản quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, báo cáo điều tra nghèo của Sở và Phòng LĐ, TB&XH, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Nam Định và 3 huyện ven biển từ tháng 6/2013 đến tháng 12/2016.
- Phương pháp phỏng vấn cán bộ và phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lý 3 cấp (huyện, xã, thôn) tại 3 huyện và 6 thôn của 3 xã điểm (Giao Xuân, Hải Chính, Nghĩa Hải); phỏng vấn sâu các cá nhân am hiểu lịch sử địa phương và cộng đồng.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi đối với 185 hộ gia đình tại 3 xã nghiên cứu (Giao Xuân: 65 hộ, Hải Chính: 60 hộ, Nghĩa Hải: 60 hộ) trong các tháng 6, 7, 8 năm 2016 theo phương pháp phân tầng theo nhóm sinh kế chính. Dữ liệu phiếu điều tra được mã hóa, làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel.
- Phương pháp quan sát thực địa: Quan sát hoạt động sản xuất nông nghiệp, làm muối, nuôi trồng và khai thác thủy sản, tiểu thủ công nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng; ghi nhận trực tiếp hậu quả tàn phá của cơn bão số 1 vào tháng 7/2016.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn và thảo luận chuyên sâu với 35 nhà khoa học và cán bộ quản lý từ các trường đại học (Trường ĐHKHXH&NV, Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN), viện nghiên cứu (Viện Địa lý, Viện Địa lý nhân văn, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam), tổ chức phi chính phủ (MCD) và lãnh đạo các phòng, ban của 3 huyện ven biển Nam Định.
- Phương pháp bản đồ và GIS: Sử dụng phần mềm MapInfo để xây dựng 07 bản đồ chuyên đề cấp huyện và 03 sơ đồ sinh kế – nghèo cấp xã, phục vụ phân tích trực quan sự phân hóa không gian.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về sinh kế và nghèo
Chương 1 đúc kết và hệ thống hóa toàn bộ các luận điểm lý thuyết về sinh kế, các nguồn vốn sinh kế, chiến lược sinh kế và tính bền vững của sinh kế. Tác giả phân tích các khái niệm liên quan chặt chẽ như việc làm (theo Bộ luật Lao động), vị thế việc làm (chủ cơ sở, tự làm, lao động gia đình, làm công ăn lương theo phân loại của Tổng cục Thống kê) và nghề nghiệp. Luận án làm rõ quá trình chuyển dịch từ đánh giá nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập sang đánh giá nghèo đa chiều; phân tích các cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa phát triển sinh kế và giảm nghèo tại khu vực ven biển, nhấn mạnh các yếu tố rủi ro sinh thái và tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu.
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế và nghèo. Các sinh kế chính và hiện trạng nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định
Chương này đánh giá chi tiết các điều kiện tự nhiên (địa hình bãi bồi ven biển, chế độ khí hậu tại trạm Văn Lý, tài nguyên nước, hệ sinh thái đất ngập nước) và nhân tố kinh tế – xã hội tác động đến sinh kế của 3 huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Luận án phân tích thực trạng các sinh kế chính: nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), thủy sản (khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ), làm muối, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp làng nghề, thương mại – dịch vụ và du lịch biển (Quất Lâm, Thịnh Long).
| Chỉ tiêu kinh tế – xã hội (Năm 2015) |
Toàn tỉnh Nam Định |
Huyện Giao Thủy |
Huyện Hải Hậu |
Huyện Nghĩa Hưng |
| Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%) |
6,42 |
10,0 – 14,0 |
10,0 – 14,0 |
10,0 – 14,0 |
| GRDP bình quân đầu người (triệu đồng/năm) |
34,94 |
- |
- |
- |
| Tỉ lệ hộ nghèo đa chiều (%) |
5,7 |
9,5 |
6,6 |
7,3 |
| Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên (‰) |
10,0 |
11,9 |
12,4 |
11,4 |
| Tỉ số giới tính khi sinh (bé trai/100 bé gái) |
115 |
119 |
114 |
115 |
| Sản lượng nuôi trồng thủy sản (tấn) |
- |
29.819 |
11.090 |
16.949 |
Chương 2 chỉ ra rằng tỉ lệ nghèo đa chiều ở cả 3 huyện ven biển (Giao Thủy: 9,5%, Hải Hậu: 6,6%, Nghĩa Hưng: 7,3%) đều cao hơn mức trung bình của toàn tỉnh Nam Định (5,7%). Sự phân hóa không gian thể hiện rõ qua cơ cấu kinh tế: Giao Thủy dẫn đầu về sản lượng nuôi trồng thủy sản; Hải Hậu có thế mạnh về thâm canh lúa, tiểu thủ công nghiệp và nghề muối; Nghĩa Hưng phát triển kết hợp kinh tế nông nghiệp và khai thác thủy sản.
Chương 3: Nghiên cứu trường hợp về sinh kế và nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định
Chương 3 đi sâu phân tích dữ liệu thực nghiệm thu thập từ 185 hộ gia đình tại 3 xã giáp biển điển hình: Giao Xuân (65 hộ), Hải Chính (60 hộ) và Nghĩa Hải (60 hộ). Kết quả đánh giá 5 nguồn vốn sinh kế cho thấy: nguồn vốn con người có học vấn tập trung ở bậc THCS (chiếm 64,1% đến 81,0% tùy ngành nghề), tỉ lệ qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật rất thấp; vốn tự nhiên và mặt nước nuôi trồng phân bổ không đồng đều; vốn vật chất và phương tiện sản xuất còn thô sơ; vốn tài chính chủ yếu dựa vào vốn tự có và vay ngân hàng thương mại.
| Loại hình sinh kế |
Thu nhập bình quân tại Giao Xuân (tr.đ/hộ/năm) |
Thu nhập bình quân tại Hải Chính (tr.đ/hộ/năm) |
Thu nhập bình quân tại Nghĩa Hải (tr.đ/hộ/năm) |
Mức trung bình chung (tr.đ/hộ/năm) |
Tỉ lệ người có nghề phụ (%) |
| Nuôi trồng thủy sản |
217,9 |
123,3 |
250,0 |
198,0 |
46,9 |
| Khai thác thủy sản |
43,2 |
174,5 |
167,1 |
133,5 |
47,1 |
| Tự kinh doanh phi nông nghiệp |
121,4 |
133,4 |
139,2 |
130,2 |
24,1 |
| Lao động làm ăn xa (di cư) |
74,3 |
72,0 |
37,9 |
62,7 |
- |
| Làm thuê |
41,3 |
51,5 |
40,0 |
44,6 |
11,7 |
| Nông nghiệp |
22,8 |
18,1 |
15,1 |
18,9 |
35,1 |
| Làm muối |
- |
10,6 |
- |
10,6 |
87,1 |
| Khó khăn sinh kế chính của hộ |
Số hộ gặp khó khăn (trên 185 hộ) |
Nguồn vốn huy động sản xuất |
Số hộ tiếp cận (trên 185 hộ) |
| Thiếu vốn sản xuất |
88 |
Vốn tự có |
117 |
| Thiếu lao động |
46 |
Vay tín dụng ngân hàng |
102 |
| Thiếu việc làm |
40 |
Mua chịu vật tư/con giống |
76 |
| Người nhà ốm đau/bệnh tật |
35 |
Vay người thân/bạn bè |
7 |
| Môi trường nước suy thoái |
19 |
Chung vốn sản xuất |
8 |
| Nguồn lợi tài nguyên suy kiệt |
13 |
Vay tín dụng nhân dân |
8 |
Phân tích mối quan hệ giữa sinh kế và nghèo cho thấy sự phân tầng xã hội sâu sắc: các hộ có sinh kế chính là nuôi trồng thủy sản hoặc tự kinh doanh có thu nhập cao và tỷ lệ nghèo thấp nhất; ngược lại, các hộ gắn với nghề làm muối và nông nghiệp thuần túy có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao nhất. Tình trạng nghèo đói là rào cản khiến các hộ không thể tiếp cận các sinh kế đòi hỏi vốn đầu tư lớn, buộc họ phải duy trì các sinh kế thu nhập thấp và chịu nhiều rủi ro.
Chương 4: Định hướng, giải pháp phát triển sinh kế và giảm nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định
Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển sinh kế gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, tầm nhìn 2030 dựa trên Chiến lược biển Việt Nam, Quy hoạch phát triển vùng ĐBSH và Quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội tỉnh Nam Định.
Các nhóm giải pháp chủ yếu được đề xuất:
- Nhóm giải pháp chung: Hoàn thiện quy hoạch không gian kinh tế biển; đầu tư nâng cấp hệ thống hạ tầng thủy lợi, đê kè, bến cá; tăng cường năng lực dự báo thiên tai và các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu; bảo vệ môi trường sinh thái đất ngập nước.
- Nhóm giải pháp phát triển từng lĩnh vực sinh kế:
- Thủy sản: Hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ, hạn chế khai thác tận diệt ven bờ; quy hoạch vùng nuôi trồng thâm canh an toàn dịch bệnh; kiểm soát chất lượng con giống.
- Nông nghiệp và làm muối: Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật; quy hoạch lại diện tích làm muối kém hiệu quả chuyển sang nuôi thủy sản hoặc dịch vụ.
- Công nghiệp – TTCN và Dịch vụ: Mở rộng các làng nghề chế biến hải sản, dệt may, cơ khí sửa chữa tàu thuyền; phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy và các khu du lịch biển.
- Nhóm giải pháp giảm nghèo gắn với sinh kế: Mở rộng tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội cho các hộ nghèo; tổ chức các lớp đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế của địa phương; hỗ trợ bảo hiểm y tế, cải thiện nhà ở và hệ thống nước sạch nông thôn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận:
- Tổng hợp, hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về sinh kế bền vững và nghèo đa chiều; điều chỉnh khung phân tích sinh kế của DFID để phù hợp với đặc trưng lãnh thổ vùng ven biển Đồng bằng Sông Hồng.
- Làm rõ bản chất mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa sinh kế và nghèo dưới góc độ địa lý kinh tế – xã hội: sinh kế là phương tiện tạo nguồn lực để thoát nghèo, trong khi tình trạng nghèo và sự thiếu hụt các nguồn vốn sinh kế là yếu tố trực tiếp hạn chế sự lựa chọn chiến lược sinh kế của hộ gia đình.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Phân tích toàn diện hiện trạng, các nhân tố ảnh hưởng và sự phân hóa không gian của các sinh kế và tình trạng nghèo tại 3 huyện ven biển tỉnh Nam Định (Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng).
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về 5 nguồn vốn sinh kế, cơ cấu thu nhập và các rào cản phát triển của hộ gia đình qua nghiên cứu trường hợp tại 3 xã đại diện (Giao Xuân, Hải Chính, Nghĩa Hải).
- Xây dựng hệ thống 07 bản đồ chuyên đề và 03 sơ đồ thể hiện trực quan phân bố sinh kế và hiện trạng nghèo cấp huyện, cấp xã bằng công nghệ GIS (MapInfo).
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm phát triển sinh kế bền vững và đẩy nhanh tiến trình giảm nghèo đa chiều tại các huyện ven biển Nam Định đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát thực địa cấp hộ gia đình mới được tiến hành tại 3 xã giáp biển (Giao Xuân, Hải Chính, Nghĩa Hải) với quy mô mẫu 185 hộ, do đó chưa thể bao quát hết tính đa dạng vi mô của toàn bộ 82 xã, thị trấn trong 3 huyện.
- Dữ liệu thống kê thứ cấp phục vụ phân tích chuyên sâu chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2010 – 2015 do giới hạn tiếp cận số liệu tại thời điểm nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô điều tra thực địa sang các xã vùng nội đồng ven biển và các xã ven sông lớn để so sánh sự khác biệt sinh kế giữa dải giáp biển trực tiếp và dải phụ cận.
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá động thái chuyển dịch sinh kế và mức độ cải thiện các chỉ số nghèo đa chiều theo các chu kỳ chính sách mới sau năm 2015.
- Nghiên cứu sâu hơn các mô hình thích ứng sinh kế dựa vào cộng đồng trước tác động dài hạn của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Địa lý học, Địa lý Kinh tế – Xã hội, Phát triển nông thôn, Quản lý tài nguyên môi trường và Xã hội học.
- Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu khi giảng dạy và xây dựng giáo trình về phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững (SLA), nghèo đa chiều và ứng dụng GIS trong nghiên cứu địa lý nhân văn.
- Cán bộ quản lý, chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Nam Định và các địa phương ven biển (Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở LĐ, TB&XH; Sở NN&PTNT; UBND các huyện, xã) trong việc lập quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.
Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất gồm: phương pháp luận điều chỉnh khung sinh kế DFID; hệ thống bảng số liệu điều tra thực địa 185 hộ gia đình; và bộ 07 bản đồ chuyên đề phân hóa không gian sinh kế – nghèo.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao luận án lại lựa chọn 3 xã Giao Xuân, Hải Chính và Nghĩa Hải để tiến hành nghiên cứu sâu ở cấp độ hộ gia đình?
Ba xã này thuộc 3 huyện ven biển khác nhau (Giao Xuân thuộc Giao Thủy, Hải Chính thuộc Hải Hậu, Nghĩa Hải thuộc Nghĩa Hưng), đều là các xã giáp biển có cơ cấu sinh kế đa dạng, mang tính đại diện cao cho các hình thức kinh tế biển đặc trưng (nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, làm muối, nông nghiệp, làm thuê). Những thành công cũng như rào cản sinh kế tại 3 xã này phản ánh đầy đủ các vấn đề thực tiễn của toàn vùng ven biển Nam Định.
-
Sinh kế nào mang lại thu nhập bình quân cao nhất và thấp nhất cho các hộ gia đình điều tra?
Theo số liệu điều tra thực địa năm 2015 tại 185 hộ, sinh kế nuôi trồng thủy sản mang lại thu nhập bình quân cao nhất với 198,0 triệu đồng/hộ/năm (trong đó cao nhất tại Nghĩa Hải đạt 250,0 triệu đồng/hộ/năm, Giao Xuân đạt 217,9 triệu đồng/hộ/năm). Ngược lại, sinh kế làm muối mang lại thu nhập thấp nhất, chỉ đạt bình quân 10,6 triệu đồng/hộ/năm.
-
Rào cản lớn nhất đối với việc phát triển sinh kế của các hộ dân vùng ven biển Nam Định là gì?
Kết quả xử lý phiếu khảo sát chỉ ra khó khăn lớn nhất là thiếu vốn sản xuất (88 hộ phản ánh), tiếp theo là thiếu lao động (46 hộ), thiếu việc làm (40 hộ), gánh nặng chi phí do người nhà ốm đau/bệnh tật (35 hộ), môi trường nước suy thoái (19 hộ) và suy kiệt nguồn lợi tài nguyên ven bờ (13 hộ).
-
Tỉ lệ nghèo đa chiều năm 2015 của các huyện ven biển Nam Định có đặc điểm gì nổi bật?
Cả 3 huyện ven biển đều có tỉ lệ nghèo đa chiều cao hơn mức trung bình chung của toàn tỉnh (5,7%). Trong đó, huyện Giao Thủy có tỉ lệ nghèo cao nhất đạt 9,5%, huyện Nghĩa Hưng đạt 7,3% và huyện Hải Hậu đạt 6,6%.
-
Luận án đã ứng dụng các công cụ phần mềm nào để phục vụ phân tích dữ liệu và biểu diễn không gian?
Tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel để nhập liệu, làm sạch, mã hóa và xử lý thống kê các biến số từ 185 phiếu điều tra hộ gia đình; đồng thời sử dụng phần mềm MapInfo để xây dựng hệ thống 07 bản đồ chuyên đề và 03 sơ đồ phân tích sinh kế và nghèo.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thị Hồng Nhung là công trình nghiên cứu toàn diện về mối quan hệ giữa sinh kế và nghèo đa chiều tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định dưới góc độ địa lý học. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết sinh kế bền vững của DFID với điều tra thực địa 185 hộ gia đình và công nghệ bản đồ GIS, luận án đã làm rõ sự phân hóa không gian của các loại hình sinh kế cũng như các chiều thiếu hụt nghèo đói tại địa phương. Các kết quả định lượng về thu nhập, nguồn vốn và khó khăn sinh kế đã cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho việc đánh giá thực trạng kinh tế – xã hội dải ven biển. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển và chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2020 – 2030.