Nghiên cứu sinh kế và nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định

Dưới đây là các meta tags được tạo cho bài viết: { "ai_description": "Nghiên cứu sinh kế và nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định nhằm tìm hiểu nguyên

Trường đại học

Đại học Nam Định

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2020

236
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tình hình sinh kế và nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định

Nghiên cứu sinh kế và nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định là một chủ đề quan trọng nhằm hiểu rõ tình hình kinh tế xã hội của người dân sống dọc theo bờ biển. Với vị trí đặc biệt, các huyện ven biển Nam Định có nhiều nguồn lợi từ biển và nông nghiệp, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức về biến đổi tự nhiên và xung đột kinh tế xã hội.

1.1. Tài nguyên biển và nông nghiệp

Các huyện ven biển Nam Định có nhiều nguồn lợi từ biển như thủy sản, muối và các sản phẩm từ rừng. Nông nghiệp cũng đóng một vai trò quan trọng với các sản phẩm nông lâm thủy sản và làm muối. Tuy nhiên, do quy mô sản xuất nhỏ và hình thức canh tác theo kiểu ‘tự cấp tự túc’, nông nghiệp không còn là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính cho các hộ gia đình.

1.2. Biến đổi tự nhiên và xung đột kinh tế xã hội

Cộng đồng dân cư ven biển rất dễ bị tổn thương bởi những biến đổi của tự nhiên do tính nhạy cảm của các hệ sinh thái (HST) ở vị trí giáp ranh giữa đất liền và đại dương. Tính không bền vững của những sinh kế tại địa phương còn được tạo ra bởi sự bất hợp lý trong cách thức khai thác nguồn lợi, bởi sự chồng chéo và xung đột nhau của các lĩnh vực kinh tế và trong nhiều trường hợp, bởi sự yếu kém của hệ thống quản lý và quy hoạch. Đồng thời, quá trình phát triển sinh kế của người dân ven biển đang làm nảy sinh những xung đột với việc bảo vệ môi trường và tài nguyên cũng như xung đột giữa các cộng đồng dân cư, làm tăng nguy cơ thiệt hại do những tác động bất lợi của tự nhiên và xã hội.

1.3. Giải pháp phát triển sinh kế và giảm nghèo

Với lý do đó, nghiên cứu sinh kế và nghèo tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định đã được lựa chọn nhằm phát hiện những vấn đề tồn tại của các sinh kế hiện tại, tìm giải pháp phát triển sinh kế và nâng cao đời sống nhân dân của vùng ven biển. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự hợp tác giữa chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương để phát triển các dự án sinh kế bền vững và giảm nghèo.

II. Nghiên cứu sinh kế và nghèo tại các xã ven biển

Nghiên cứu sinh kế và nghèo tại các xã ven biển Nam Định nhằm hiểu rõ tình hình kinh tế xã hội của người dân sống tại các xã Giao Xuân, Hải Chính và Nghĩa Hải. Mỗi xã có những đặc điểm riêng về sinh kế và mức độ nghèo khác nhau do các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội ảnh hưởng.

2.1. Sinh kế và nghèo tại xã Giao Xuân

Xã Giao Xuân có số hộ làm nông nghiệp ít nhất trong 3 xã nhưng lại có số hộ thu nhập từ nông nghiệp nhiều nhất. Bởi vì xã không có đất lúa, chỉ canh tác rau màu và chăn nuôi nên sản phẩm nông nghiệp hầu hết phục vụ cho thị trường. Tuy nhiên, do số hộ canh tác lúa nhiều và được sử dụng cho tiêu dùng là chủ yếu nên chỉ có hơn 50% số hộ có thu nhập từ nông nghiệp tại Giao Xuân và Nghĩa Hải.

2.2. Sinh kế và nghèo tại xã Hải Chính

Xã Hải Chính có số hộ làm nông nghiệp nhiều nhất trong 3 xã nhưng lại có số hộ thu nhập từ nông nghiệp ít nhất. Bởi vì xã có nhiều đất lúa và sản phẩm nông nghiệp hầu hết phục vụ cho tiêu dùng trong gia đình, nên chỉ có hơn 50% số hộ có thu nhập từ nông nghiệp. Tuy nhiên, thu nhập từ nông nghiệp tại Hải Chính thấp hơn so với Giao Xuân và Nghĩa Hải.

2.3. Sinh kế và nghèo tại xã Nghĩa Hải

Xã Nghĩa Hải có số hộ làm nông nghiệp nhiều thứ hai trong 3 xã và có số hộ thu nhập từ nông nghiệp nhiều thứ ba. Bởi vì xã có nhiều đất lúa và sản phẩm nông nghiệp hầu hết phục vụ cho tiêu dùng trong gia đình, nên chỉ có hơn 50% số hộ có thu nhập từ nông nghiệp. Thu nhập từ nông nghiệp tại Nghĩa Hải thấp hơn so với Giao Xuân nhưng cao hơn so với Hải Chính.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

15/03/2026
Nghiên cứu sinh kế và nghèo tại các huyện ven biển tỉnh nam định

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SINH KẾ VÀ NGHÈO 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Về sinh kế 1. Về khái niệm sinh kế Khái niệm sinh kế được phát biểu lần đầu tiên bởi Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987) [158].

Một định nghĩa đầy đủ hơn của Conway Chambers (1992) về sinh kế trong công trình Sustainable rural livelihoods: Practical concepts for the 21st century [128] đã trở thành khái niệm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về sinh kế. Dựa trên khái niệm về sinh kế này, một số nhà nghiên cứu khác như Ashley và Carney (1999) [126], Frank Ellis (1999) [131] cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về sinh kế phù hợp với từng khu vực và bối cảnh nghiên cứu nhưng có nhiều điểm đồng nhất. Năm 2001, Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm sinh kế để định hướng cho các hoạt động hỗ trợ phát triển [129] với nhiều khía cạnh tương đồng với các nghiên cứu trên. Tuy nhiên, một số tác giả, tiêu biểu như Miranda Cahn (2002) đã nhân điṇ h rằng cần điều chỉnh khái niệm sinh kế khi áp dụng ở những khu vực khác nhau, ví dụ như khu vực Thái Bình Dương do có những đặc trưng về văn hóa và truyền thống.

Cahn cho rằng khi áp dụng khung SKBV ở khu vực Thái Bình Dương cần chú ý đến các yếu tố văn hóa, truyền thống (bao gồm cả đặc trưng về giới), vì các yếu tố này có tác động đến sinh kế ở nhiều khía cạnh khác nhau [143]. Một số nhà nghiên cứu về sinh kế ở Việt Nam đã tổng hợp những quan niệm về sinh kế trên cả khía cạnh học thuật và vận dụng trong cuộc sống. Một nghiên cứu mang tính tổng hợp và phân tích cơ sở lý luận về sinh kế của các tác giả trên thế giới là Khung SKBV: một cách phân tích toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo [73] của Nguyễn Văn Sửu (2010). Chu Maṇ h Trinh (2008) đã làm rõ sự thay đổi của thuật ngữ sinh kế từ nghĩa thông thường trước đây đến những khía cạnh khác trong các nghiên cứu hiện nay [81].

Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng, đến các điểm mạnh, khả năng chịu đựng và những rủi ro trong cách kiếm sống của người dân. Những yếu tố này có thể có tác động trực tiếp như nguồn vốn, công việc, hoạt động văn hóa, các trợ giúp để tiếp cận (hoặc hạn chế khả năng tiếp cận) nguồn vốn, hoặc gián tiếp như chính sách, thể chế, và các quá trình ảnh hưởng đến việc lựa chọn sinh kế của người dân. Định nghĩa sinh kế cũng được đề cập đến trong nghiên cứu của Mạng lưới các trung tâm NTTS Châu Á – Thái Bình Dương (2006) [41]. Từ khái niệm về sinh kế, nhiều tác giả cũng đề cập đến khái niệm sinh kế bền vững (SKBV - Sustainable Livelihood) để trả lời cho câu hỏi khi nào một sinh kế được coi là bền vững.

WCED cho rằng SKBV là một khái niệm lồng ghép và là phương tiện để đạt được 2 mục tiêu trong phát triển kinh tế: công bằng và bền vững 11 [158]. Khái niệm này cũng được Scoones (1998) đề cập [137] và Hanstad (2004) diễn giải [154] với những nét tương đồng về tính chất lâu bền theo thời gian của các nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn tự nhiên. Các nhà nghiên cứu của DFID [129] lại quan niệm về tính bền vững của sinh kế dựa trên khả năng phụ hồi trước biến động, tính ít phụ thuộc và mối quan hệ với các sinh kế khác. Về việc đánh giá tính bền vững của sinh kế Để đánh giá tính bền vững của sinh kế, các nhà nghiên cứu đã đề xuất khung SKBV.

Mặc dù có rất nhiều tổ chức sử dụng khung phân tích sinh kế với các mức độ vận dụng khác nhau, khung phân tích sinh kế có thành phần cơ bản giống nhau, trong đó được quan tâm nhất là các nguồn vốn (tài sản) sinh kế. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng con người dựa vào năm loại vốn để đảm bảo sinh kế hay giảm nghèo. Tuy nhiên, cách gọi tên của các nguồn vốn này không thực sự giống nhau trong các nghiên cứu của Ian Scoones (1998) [137] và Anthony Bebbington (1999) [125]. Trong khi đó, DFID (2001) [129] và Julian Hamilton-Peach, Philip Townsley (2004) trong An IFAD sustainable livelihood framework [140] đều tương đối thống nhất về 5 nguồn vốn: Vốn con người, Vốn tự nhiên, Vốn vật chất, Vốn tài chính, Vốn xã hội.

Khung phân tích sinh kế là mô hình toàn diện nhằm đặt con người ở vị trí trung tâm trong quá trình phân tích để xây dựng các chiến lược phát triển. Năm 1998, khung SKBV khu vực nông thôn được phát triển bởi Scoones [137] được xác định phù hợp với điều kiện của khu vực nông thôn. Trên cơ sở ấy, DFID (2001) đã xây dựng khung SKBV chung cho tất cả các sinh kế [129]. Tác giả Koos Neefjes (dịch giả Nguyễn Văn Thanh, 2003) trong Môi trường và sinh kế: các chiến lược phát triển bền vững [36] lại phát triển khung SKBV dựa trên mối quan hệ chủ yếu với môi trường.

Năm 2004, IMM đã sửa đổi lại khung phân tích của DFID để áp dụng cho các cộng đồng ven biển, được gọi là “Khung SKBV vùng ven biển” (trích theo [3]). Ưu điểm của khung sinh kế này là các chỉ báo được đề cập rất cụ thể và chi tiết. Tuy nhiên cũng do tính chi tiết này nên việc phân tích khá phức tạp. Từ các khung sinh kế này, năm 2004, quỹ Phát triển Nông nghiệp quốc tế (IFAD) nỗ lực phát triển và kết hợp một số thay đổi so với khung SKBV của DFID (An IFAD sustainable livelihood framework [140]).

Khung phân tích SKBV mới được IFAD đưa ra đầy đủ các yếu tố hơn, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa các yếu tố và làm rõ quan điểm lấy người nghèo làm trung tâm. Đây được xem như một mô hình để tham khảo trong quá trình phân tích sinh kế cộng đồng. Một cách khác để đánh giá tính bền vững của sinh kế là cách đánh giá dựa trên những khía cạnh của PTBV: môi trường, kinh tế, xã hội và thể chế cũng được DFID đề xuất trong Susstainable livelihoods guidance sheets [129]. Về việc vận dụng khung lý thuyết sinh kế trong các nghiên cứu cụ thể Xu hướng nổi bật của các nghiên cứu là vận dụng các lý thuyết này vào các trường hợp nghiên cứu cụ thể như Nguyễn Tường Huy (2013) ở khu vực đầm Nha 12 Phu, Khánh Hòa [136] hay Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016) phân tích sinh kế của người Mạ ở Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên [60].

Các nghiên cứ u chủ yếu tâp trung vào phân tích những biến đổi và khả năng thích ứ ng của các sinh kế dân cư đối với những biến đôṇ g của tự nhiên cũng như xa hôị. Từ đó các tác giả khuyến nghi ̣những vấn đề cần quan tâm trong viêc xây dưng các chính sách liên quan đế phát triển sinh kế. Điều kiện tự nhiên được xác định là có ảnh hưởng mạnh đến sinh kế của người dân. Đó có thể là điều kiện khí hậu như nhận định của Nguyên Troṇ g Xuân, Trần Hoàng Sa [120] hoặc các loại thiên tai như trong nghiên cứu của nhóm tác giả Võ Hồng Tú , Duy Cần [85].

Nguyên Một số tác giả khác lại quan tâm nhiều hơn đến các nhân tố KTXH như Nguyêñ Đăng Hào (2010) đã sử duṇ g phương pháp đánh giá sinh kế có sự tham gia và phỏng vấn nông hộ ở vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế để thấy chiến lược sinh kế dựa vào nông nghiệp vẫn được áp dụng phổ biến nhưng có sự dịch chuyển đáng kể theo hướng đa dạng hóa [30]. Nghiên cứ u Tầm nhìn nông hộ kế h sinh kế: Ứ ng lâp hoac du g nghiên cứ u và khuyến nông có sự tham gia (2008) của Dương Văn Sơn đã áp n duṇ g cách tiếp mớ i trong quá trình kế hoac̣ h sinh kế: tiếp tầm nhìn với cân lâp cân troṇ g tâm là xác điṇ h cu ̣‘ thể tiêu trong tương lai gần, trên cơ sở sự tham gia viêc muc của người dân, để xác điṇ h các chiến sinh kế cho nông dân tỉnh Bắc [72]. lươc Kan Nghiên cứ u về sinh kế ở khu ven biển Viêt Nam như SKBV cho cá c khu vưc bảo tồn biển Viêt Nam (2007) của Angus McEwin và các đồng sự đã khẳng điṇ h vai trò quan troṇ g của tài nguyên đối với các chiến sinh kế. Sự PTBV của nghề cá lươc phải dựa trên việc bảo vệ các sinh cảnh biển và ven biển [3].

Do vậy, để đảm bảo tính bền vững của các sinh kế cho cộng đồng ngư dân phải đặc biệt chú trọng vào bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển. Từ những khái quát về các nguồn lưc sinh kế của dân cư vùng ven biển Thanh Hóa, Khánh Hò a và Sóc Trăng, Xuân Mai và Duy Thắng (2011) Nguyên Nguyên khẳng điṇ h các hoaṭ đôṇ g sinh kế của côṇ g đồng ven biển thường xuyên chiu những rủi ro lớ n [39]. Điều đó làm cho bô ̣‘ lớn trong côṇ g đồng rơi vào vòng xoáy môt phân của sự nghèo khổ, tao nên áp lớn đối với vùng ven bờ. Vì vâỵ , để giảm thiểu lưc những rủi ro sinh kế hiên thời, bảo vê ̣‘và PTBV các nguồn tài nguyên ven biển, cần nghiên cứ u và xây dưng các mô hình sinh kế thay thế.

Trong nghiên cứ u Phá t triển sinh kế đia phương gó p phần bảo vê ̣a và sử dung 13 bền vững tà i nguyên thiên nhiên và môi trườ ng (2008), tác giả Chu Maṇ h Trinh thấy có mối quan hê ̣‘chặt chẽ giữa sinh kế côṇ g đồng với đồng quản lý, trên cơ sở sử duṇ g chung các vốn sinh kế biê là vốn tự nhiên và vốn xã hôị ). lươn ḷ ơi Tâp trung vào mối quan hê ̣‘giữa sinh kế và BĐKH, nghiên cứu do DFID, UNDP và Bộ Tài nguyên Môi trường (2009) tiến hành đã xem xét phương hướng phục hồi 14 các sinh kế ở vùng ven biển miền Trung Việt Nam, những nơi chịu nhiều tác động bất lợi của BĐKH nhất [10]. Trên cơ sở đó, báo cáo xác định các biện pháp và các chiến lược thích ứng nhằm giảm bớt các tổn thương của sinh kế vùng ven biển, xây dựng khả năng phục hồi do các tác động của khí hậu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ