MỞ ĐẦU. TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHẠM VI, PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .37 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .69 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Sinh kế, sinh kế bền vững và các tiêu chí Sinh kế và sinh kế bền vững đã trong các bối cảnh khác nhau. Và dƣới đây sẽ là một vài tổng luận nhỏ bàn về các khái niệm này. Sinh kế Từ "sinh kế" có thể đƣợc dùng theo nhiều cách khác nhau. Khi nói đến sinh kế của một ngƣời là đề cập đến "phƣơng thức đảm bảo các nhu cầu cơ bản - thực phẩm, nƣớc, chỗ ở và quần áo trong đời sống" của họ.
Và cụm từ “sinh kế” không có gì khác ngoài ý nghĩa “nghề nghiệp” hoặc “việc làm”, và cũng có nghĩa là con đƣờng để kiếm sống. Trong vài thập kỷ gần đây, ý nghĩa của cụm từ này đã đƣợc mở rộng hơn bao gồm cả về mặt xã hội, kinh tế và một loạt các yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sinh kế nhƣ các nguồn lực, công việc, hoạt động văn hóa, thể chế, chính sách,… “Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống: Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu với và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn. Và phỏng theo định nghĩa sinh kế của Chambers and Conway nêu trên, DFID đƣa ra đƣợc khái niệm rộng về sinh kế nhƣ sau: "Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống". Khái niệm sinh kế trên của DFID vừa đơn giản lại vừa khái quát đƣợc tất cả các khía cạnh của sinh kế và các yếu tố ảnh hƣởng: nguồn lực vật chất, xã hội và 4 phƣơng thức sinh kế.
Chính vì lẽ đó mà khái niệm sinh kế của DFID đã đƣợc sử dụng nhiều trong phân tích các vấn đề phát triển, đặc biệt là vấn đề nghèo đói và phát triển ở các nƣớc nghèo. Và cũng trong khuôn khổ đề tài luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm sinh kế này của DFID để tiếp cận vấn đề nghiên cứu của mình. Sinh kế bền vững Sinh kế của ngƣời dân là bền vững khi họ có thể duy trì và nâng cao đƣợc nguồn lực, có thể đối phó và vƣợt qua các cú sốc nội tại cũng nhƣ từ ngoài, mà không làm tổn thƣơng hoặc phung phí tài nguyên thiên nhiên mà con ngƣời phụ thuộc. Trong bối cảnh này, “sự bền vững” không phải là một trạng thái cân bằng bất động, mà ở trong một điều kiện có sự chấp nhận rủi ro và có khả năng phục hồi.
Theo DFID: “Một sinh kế là bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi khỏi các áp lực và những cú sốc đồng thời duy trì hoặc tăng cường khả năng và tài sản sinh kế ở cả hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên”[DFID, 2001]. Các tiêu chí sinh kế bền vững Các nghiên cứu của Scoones (1998) và DFID (2001) đều thống nhất đƣa ra một số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phƣơng diện: kinh tế, xã hội, môi trƣờng và thể chế. Theo cuốn “Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển” của Vũ Thọ Đạt và Trần Hoài Thu năm 2012 cũng có nhắc đến các phƣơng diện bền vững cuả sinh kế nhƣ sau: + Bền vững về kinh tế: Đƣợc đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập. + Bền vững về xã hội: Đƣợc đánh giá thông qua một số chỉ tiêu nhƣ: tạo thêm việc làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lƣơng thực, cải thiện phúc lợi.
+ Bền vững về môi trường: Đƣợc đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên (đất, nƣớc, rừng, tài nguyên thủy sản…), không gây hủy hoại môi trƣờng (nhƣ ô nhiễm môi trƣờng, suy thoái môi trƣờng) và có khả năng thích ứng trƣớc những tổn thƣơng và cú sốc từ bên ngoài. 5 + Bền vững về thể chế: Đƣợc đánh giá thông qua một số tiêu chí nhƣ: hệ thống pháp lý đƣợc xây dựng đầy đủ và đồng bộ, qui trình hoạch định chính sách có sự tham gia của ngƣời dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tƣ hoạt động có hiệu quả; từ đó tạo ra một môi trƣờng thuận lợi về thể chế và chính sách để giúp các sinh kế đƣợc cải thiện một cách liên tục theo thời gian.[Trần Thọ Đạt và Vũ Hoài Thu, 2012, tr. Nhƣ vậy sinh kế đƣợc coi là bền vững khi sản phẩm đầu ra của sinh kế phải đảm bảo các tiêu chí: an toàn lƣơng thực, cải thiện điều kiện môi trƣờng tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trƣờng cộng đồng - xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, đƣợc bảo vệ tránh rủi ro và các cú sốc. Tiếp cận sinh kế bền vững Tiếp cận sinh kế bền vững (The sustainable livelihoods approach) là một cách cải thiện sự hiểu biết về sinh kế của ngƣời nghèo.
Nó dựa trên các yếu tố chính ảnh hƣởng đến sinh kế ngƣời nghèo và các mối quan hệ đặc trƣng giữa các yếu tố này. Nó có thể đƣợc sử dụng để lên các kế hoạch hoạt động mới và đánh giá các hoạt động hiện có để tạo ra sinh kế bền vững. Cách tiếp cận này đƣa ra một khung tiếp cận giúp hiểu biết về sự phức tạp của nghèo đói đồng thời đƣa ra một bộ các nguyên tắc hƣớng dẫn hành động nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói. Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) của DFID đƣa ra đƣợc nhiều giới học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi.
Khung sinh kế bền vững (DFID, 2001) Khung sinh kế bền vững đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế đó là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến lƣợc sinh kế, (iii) kết quả sinh kế, (iv) các quy trình về thể chế và chính sách, và (v) bối cảnh bên ngoài [DFID, 2001]. Nguồn lực sinh kế: Có 5 loại nguồn lực sinh kế đó là: Vốn con ngƣời, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn xã hội và vốn vật chất. - Vốn con ngƣời: Các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, khả năng lao động, sức khỏe, trình độ giáo dục mà những yếu tố này giúp con ngƣời thực hiện các chiến lƣợc sinh kế khác nhau và đạt đƣợc các kết quả sinh kế khác nhau. Ở cấp hộ gia đình, nguồn lực con ngƣời là yếu tố quyết định số lƣợng và chất lƣợng lao động và nó thay đổi tùy theo qui mô hộ gia đình, trình độ kỹ năng, sức khỏe,… - Vốn tự nhiên: Các nguồn tài nguyên có trong môi trƣờng tự nhiên mà con ngƣời có thể sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế, ví dụ nhƣ đất đai, rừng, tài nguyên biển, nƣớc, không khí, đa dạng sinh học,… 7 - Vốn tài chính: Các nguồn vốn khác nhau mà con ngƣời sử dụng để đạt đƣợc các mục tiêu sinh kế, bao gồm các khoản tiền tiết kiệm, tiền mặt, trang sức, các khoản vay, các khoản thu nhập,… - Vốn xã hội: Các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong xã hội mà con ngƣời dựa vào để thực hiện các hoạt động sinh kế, chủ yếu bao gồm các mạng lƣới xã hội (các tổ chức chính trị hoặc dân sự), thành viên của các tổ chức cộng đồng, sự tiếp cận thị trƣờng,… - Vốn vật chất: Hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản hỗ trợ cho các hoạt động sinh kế, ví dụ nhƣ: đƣờng giao thông, nhà ở, cấp nƣớc, thoát nƣớc, năng lƣợng (điện), thông tin,.
Chiến lược sinh kế: Chiến lƣợc sinh kế là cách mà hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế sẵn có để kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống. Ví dụ, một hộ ngƣ dân kiếm sống bằng nghề đánh bắt thì cần sử dụng các nguồn lực sinh kế nhƣ: (i)nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thủy hải sản); (ii) nguồn lực vật chất (tàu, thuyền đánh cá, ngƣ cụ, bến tàu); (iii) nguồn lực con ngƣời (lực lƣợng lao động, sức khỏe, tri thức và kinh nghiệm về khai thác cá), (iv) nguồn lực xã hội (thị trƣờng bán sản phẩm), và (v) nguồn lực tài chính (tiền vay từ ngân hàng, bà con, bạn bè,…). Các nhóm dân cƣ khác nhau trong cộng đồng có những đặc điểm kinh tế - xã hội và các nguồn lực sinh kế khác nhau nên có những lựa chọn về chiến lƣợc sinh kế không giống nhau. Các chiến lƣợc sinh kế có thể thực hiện là: sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ, buôn bán, du lịch, di dân… Kết quả sinh kế: Kết quả sinh kế là những thành quả mà hộ gia đình đạt đƣợc khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các chiến lƣợc sinh kế.
Các kết quả sinh kế chủ yếu bao gồm: tăng thu nhập, cải thiện phúc lợi, giảm khả năng bị tổn thƣơng, tăng cƣờng an ninh lƣơng thực, sử dụng bền vững hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các kết quả sinh kế này phản 8 ánh tính bền vững của sinh kế trên 3 phƣơng diện: kinh tế - xã hội - môi trƣờng. Thể chế, chính sách: Các thể chế (cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tƣ nhân) và luật pháp, chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của các sinh kế. Các thể chế và chính sách đƣợc xây dựng và hoạt động ở tất cả các cấp, từ cấp hộ gia đình đến các cấp cao hơn nhƣ cấp vùng, quốc gia và quốc tế.
Các thể chế và chính sách này quyết định khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế và việc thực hiện các chiến lƣợc sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tƣợng khác nhau. Bối cảnh bên ngoài: Bối cảnh bên ngoài, hiểu một cách đơn giản, là môi trƣờng bên ngoài mà con ngƣời sinh sống. Sinh kế của ngƣời dân và nguồn lực sinh kế của họ bị ảnh hƣởng rất nhiều bởi 3 yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài là: các xu hƣớng, các cú sốc và tính mùa vụ.