Tổng quan nghiên cứu

Vườn Quốc gia Xuân Sơn sở hữu tổng diện tích tự nhiên 15.048 ha với hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi đá vôi độc đáo, đứng thứ 12 trong số 15 Vườn Quốc gia lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên, khu vực vùng đệm bao gồm 29 thôn thuộc 6 xã của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đang là nơi sinh sống của 12.559 nhân khẩu thuộc 2.908 hộ gia đình với tỷ lệ nghèo đói năm 2013 lên tới 45,8%. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây đối mặt với áp lực gay gắt: quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm vỏn vẹn 2,09% tổng diện tích đất nông nghiệp, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt mức khiêm tốn 7,9 triệu đồng/người/năm. Tình trạng thiếu tư liệu sản xuất và dân trí thấp đã thúc đẩy các hoạt động khai thác tài nguyên rừng trái phép, đốt nương làm rẫy, bẻ thạch nhũ và săn bắt động vật hoang dã, đe dọa trực tiếp đến 9.099 ha vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Môi trường và Phát triển bền vững của tác giả Nguyễn Thị Kim Vui, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Lê Trọng Cúc tại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (Đại học Quốc gia Hà Nội), tập trung giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế dân sinh. Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện hiện trạng sinh kế của cư dân vùng đệm, định lượng các tác động qua lại giữa hoạt động mưu sinh và hệ sinh thái rừng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển sinh kế bền vững. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 11/2014 đến tháng 11/2015 tại địa bàn 6 xã vùng đệm, trọng tâm là xã Xuân Sơn. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương và Ban Quản lý Vườn Quốc gia giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 30%, đồng thời bảo tồn nguyên vẹn 100% diện tích rừng đặc dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa Khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2001), Tiếp cận hệ thống sinh thái nhân văn và Lý thuyết bảo tồn dựa vào cộng đồng. Trong đó, mô hình DFID đóng vai trò chủ đạo nhằm phân tích cấu trúc 5 nguồn lực sinh kế cốt lõi của hộ gia đình:

  • Vốn tự nhiên: Quỹ đất rừng 14.735,6 ha, đất nông nghiệp 312,4 ha, nguồn nước suối Thang, suối Chiềng và tính đa dạng sinh học phong phú.
  • Vốn con người: Tổng số 7.391 lao động (chiếm 58,8% dân số), tri thức bản địa cùng kinh nghiệm canh tác ruộng nước lâu đời của người Mường.
  • Vốn tài chính: Các khoản tiền mặt, tiền tích lũy và nguồn vốn vay tín dụng chính sách phục vụ xóa đói giảm nghèo.
  • Vốn vật chất: Hạ tầng kỹ thuật gồm 94 km đường nhựa liên xã, 67,7 km đường bê tông thôn bản và các công trình thủy lợi, trạm y tế.
  • Vốn xã hội: Mối quan hệ tương trợ dòng tộc, hương ước làng bản và mạng lưới các tổ chức đoàn thể địa phương.

Bên cạnh đó, luận văn làm sáng tỏ các khái niệm khoa học trọng tâm bao gồm "Sinh kế", "Sinh kế bền vững", "Tiếp cận hệ sinh thái" và "Vùng đệm khu bảo tồn" theo chuẩn mực của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) cùng Thông tư 10/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa tài liệu thứ cấp (báo cáo kinh tế - xã hội, quy hoạch bảo tồn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Thọ năm 2013) và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa. Quá trình thu thập dữ liệu điền dã áp dụng phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) với quy mô cỡ mẫu gồm 30 phiếu phỏng vấn sâu và bảng hỏi bán cấu trúc. Phương pháp chọn mẫu định mức phân tầng đại diện được triển khai tại 4 thôn đặc thù của xã Xuân Sơn (thôn Dù, thôn Lấp, thôn Lạng, thôn Cỏi), bao gồm các đối tượng: chủ hộ nghèo, cán bộ thôn bản, nhân viên kiểm lâm và hộ kinh doanh du lịch.

Phương pháp phân tích ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) được lựa chọn nhằm bóc tách toàn diện các nhân tố nội tại bên trong hộ gia đình và bối cảnh tác động bên ngoài. Lý do lựa chọn kết hợp PRA và ma trận SWOT là nhằm thu hút sự tham gia trực tiếp của người dân bản địa, biến tri thức địa phương thành các giải pháp thực tế, đồng thời lượng hóa chính xác các điểm nghẽn trong việc chuyển đổi nguồn vốn thành sinh kế cụ thể. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và xử lý số liệu được thực hiện liên tục trong thời gian 12 tháng (từ tháng 11/2014 đến tháng 11/2015).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quỹ đất sản xuất nông nghiệp tại vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Sơn vô cùng khan hiếm và phân bổ mất cân đối nghiêm trọng. Trong tổng số 15.048 ha đất tự nhiên, diện tích đất nông lâm nghiệp chiếm tới 99,22%, nhưng diện tích đất thực sự dành cho sản xuất nông nghiệp chỉ có 312,4 ha (tương ứng 2,09%), còn lại 97,91% là đất lâm nghiệp. Riêng tại xã trung tâm Xuân Sơn, đất canh tác nông nghiệp là 170,2 ha, phần lớn chỉ cấy được lúa 1 vụ do thiếu hệ thống tưới tiêu chủ động.

Thứ hai, mức sống của cộng đồng địa phương còn rất thấp với tỷ lệ nghèo đói ở mức báo động. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình của 6 xã vùng đệm năm 2013 chiếm 45,8%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân 29,07% của toàn huyện Tân Sơn. Thành phần dân tộc tại khu vực gồm người Mường chiếm 79,9% (2.324 hộ), người Dao chiếm 18,7% (546 hộ) và người Kinh chiếm 1,4% (38 hộ). Tỷ lệ hộ nghèo tại xã Xuân Sơn phân bố theo từng xóm: thôn Lấp 62,5%, thôn Cỏi 55,8%, thôn Dù 49,2% và thôn Lạng 42,7%, với thu nhập bình quân toàn vùng chỉ đạt 7,9 triệu đồng/người/năm.

Thứ ba, sự đa dạng sinh học phong phú đang chịu áp lực xâm hại nặng nề từ các hoạt động mưu sinh thiếu bền vững. Vườn Quốc gia Xuân Sơn ghi nhận 1.259 loài thực vật bậc cao có mạch (với 47 loài có tên trong Sách đỏ) và 370 loài động vật có xương sống (gồm 36 loài trong Sách đỏ Việt Nam 2007 và 41 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP). Do thiếu đất sản xuất và nguồn thu nhập ổn định, người dân vẫn duy trì tập quán chăn thả gia súc tự do vào rừng, khai thác trộm gỗ củi và xâm lấn thạch nhũ tại hơn 30 hang động để bán làm hòn non bộ cảnh.

Thứ tư, tính bền vững của các chương trình can thiệp sinh kế trước đây còn nhiều hạn chế. Dự án DANIDA của Đan Mạch (2008-2010) và dự án AFAP từng hỗ trợ các mô hình nuôi lợn lửng, gà chín cựa và trồng cây lâm sản ngoài gỗ. Tuy nhiên, sau khi các nguồn tài trợ nước ngoài kết thúc, phần lớn mô hình bị suy thoái do người dân còn nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại và thiếu kênh kết nối tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự bấp bênh trong sinh kế của cư dân vùng đệm bắt nguồn từ sự thiếu hụt nghiêm trọng cả 5 nguồn vốn DFID. Về vốn vật chất, hạ tầng thủy lợi phục vụ nông nghiệp chủ yếu là mương đắp tạm bợ, dễ bị lũ ống phá hủy trong mùa mưa (với lượng mưa hàng năm lên đến 1.826 mm, cực đại đạt 2.453 mm). Về vốn con người, dù có 7.391 người trong độ tuổi lao động nhưng tỷ lệ học sinh theo học cấp THCS và THPT chỉ đạt khoảng 70%, dẫn đến hạn chế trong việc tiếp thu kỹ thuật thâm canh hiện đại.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu của Angus McEwin (2007) về sinh kế tại các khu bảo tồn biển Việt Nam hay dự án IMOLA tại Thừa Thiên Huế, kết quả nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn tái khẳng định quy luật: nếu các mô hình sinh kế thay thế không dựa trên năng lực nội tại và chuỗi giá trị tự chủ của người dân bản địa thì nguy cơ tái nghèo và quay lại khai thác tài nguyên rừng là tất yếu.

Các phát hiện nghiên cứu được trực quan hóa thông qua biểu đồ cơ cấu phân bổ đất đai (so sánh 2,09% đất nông nghiệp với 97,91% đất lâm nghiệp), bảng thống kê phân loại hộ nghèo theo 4 thôn bản và ma trận SWOT. Ma trận này đã chỉ rõ việc khai thác lợi thế cảnh quan thiên nhiên với hơn 30 hang động kỳ vĩ cùng nét văn hóa múa xòe, dệt thổ cẩm của người Mường, người Dao chính là chìa khóa phát triển du lịch sinh thái để giải quyết bài toán nghèo đói.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để xung đột giữa bảo tồn rừng đặc dụng và cải thiện đời sống nhân dân, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ:

  • Hoàn thiện hạ tầng thủy lợi và chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Ban Quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn đầu tư kiên cố hóa 15 km hệ thống kênh mương dẫn nước tự chảy, phấn đấu nâng diện tích cấy lúa 2 vụ từ 170,2 ha lên 250 ha vào năm 2020, giảm 50% nguy cơ thiếu lương thực trong mùa khô hạn.
  • Phát triển các chuỗi giá trị nông lâm sản đặc sản bản địa: Trạm Khuyến nông huyện Tân Sơn phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Xuân Sơn tổ chức tập huấn kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học cho 200 hộ dân, tập trung nhân rộng đàn lợn lửng và giống gà chín cựa đặc sản, hướng tới mục tiêu gia tăng 35% thu nhập bình quân hộ gia đình trong giai đoạn 2016-2020.
  • Thúc đẩy mô hình du lịch sinh thái cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ cùng Ban Quản lý Vườn Quốc gia xây dựng tuyến du lịch liên kết Xuân Sơn - Đền Hùng, hỗ trợ 50 hộ gia đình tại xóm Dù và xóm Lạng xây dựng dịch vụ lưu trú homestay đạt chuẩn, đặt mục tiêu thu hút 15.000 lượt khách du lịch mỗi năm.
  • Thiết lập cơ chế đồng quản lý và đẩy mạnh chi trả dịch vụ môi trường rừng: Ban Quản lý Vườn Quốc gia ký hợp đồng giao khoán bảo vệ 14.735,6 ha rừng cho 100% các tổ đội cộng đồng thôn bản, bảo đảm tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đóng góp ít nhất 20% vào tổng thu nhập hàng năm của các hộ nhận khoán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao và là tài liệu tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Ban Quản lý các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Đặc biệt là các đơn vị quản lý hệ sinh thái núi đá vôi khu vực phía Bắc, có thể sử dụng các chỉ số sinh kế của 2.908 hộ dân tại Xuân Sơn để xây dựng phương án tuần tra rừng có sự tham gia của cộng đồng và giảm thiểu nguy cơ xâm hại 15.048 ha rừng đặc dụng.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách: Các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể khai thác các bài học thực tiễn về sự đổ vỡ của các mô hình hỗ trợ trước đây nhằm tái cơ cấu chính sách xóa đói giảm nghèo cho 45,8% hộ nghèo vùng đệm.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu môi trường: Tiếp cận phương pháp luận mẫu mực kết hợp giữa khung lý thuyết DFID, bộ công cụ PRA với 30 phiếu điều tra thực địa và ma trận SWOT để làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế sinh thái.
  • Các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp lữ hành du lịch: Khai thác kho tàng văn hóa của 79,9% cư dân người Mường cùng hệ thống 30 hang động để thiết kế các dự án tài trợ phát triển bền vững và tour du lịch trải nghiệm sinh thái có trách nhiệm.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến người dân vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Sơn gặp khó khăn trong sản xuất nông nghiệp là gì?

Nguyên nhân cốt lõi là sự thiếu hụt đất canh tác khi đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 312,4 ha (chiếm 2,09% tổng diện tích đất nông nghiệp). Địa hình đồi núi dốc đứng kết hợp hạ tầng thủy lợi thô sơ khiến phần lớn diện tích lúa nước chỉ canh tác được 1 vụ, phụ thuộc hoàn toàn vào lượng mưa tự nhiên 1.826 mm/năm.

Khung sinh kế bền vững của DFID được vận dụng như thế nào trong luận văn này?

Tác giả sử dụng khung DFID để đo lường 5 nguồn vốn sinh kế thông qua 30 phiếu điều tra PRA tại 4 thôn của xã Xuân Sơn. Khung phân tích này giúp chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất nằm ở vốn tài chính (thu nhập 7,9 triệu đồng/người/năm) và vốn vật chất, làm cơ sở định hình các chiến lược can thiệp chính xác.

Vì sao các mô hình chăn nuôi đặc sản từ dự án quốc tế trước đây chưa đạt hiệu quả bền vững?

Mặc dù các dự án như DANIDA (2008-2010) đã chuyển giao thành công mô hình nuôi gà chín cựa và lợn lửng, nhưng khi dự án rút đi, các mô hình bị mai một do người dân thiếu vốn tự có, mang tâm lý ỷ lại vào trợ cấp và chưa thiết lập được kênh thương mại hóa sản phẩm ra thị trường.

Áp lực sinh kế của người dân ảnh hưởng tiêu cực nhất đến đa dạng sinh học ở những khía cạnh nào?

Tỷ lệ hộ nghèo lên tới 45,8% đã buộc người dân khai thác trộm gỗ củi, săn bắt các loài thuộc 370 loài động vật rừng, chăn thả gia súc tự do vào phân khu phục hồi sinh thái 5.737 ha và bẻ trộm các khối thạch nhũ trong hơn 30 hang động để làm non bộ thương mại.

Giải pháp nào được đánh giá là mang tính đột phá để nâng cao thu nhập cho cư dân bản địa?

Giải pháp đột phá là phát triển du lịch sinh thái cộng đồng liên kết tuyến Xuân Sơn - Đền Hùng gắn với dịch vụ homestay. Mô hình này tận dụng tối đa bản sắc văn hóa của 79,9% đồng bào người Mường, tạo việc làm phi nông nghiệp cho 5.744 lao động vùng đệm mà không gây tổn hại đến rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã phác họa bức tranh toàn diện về đời sống của 2.908 hộ dân vùng đệm với tỷ lệ nghèo đói 45,8% và diện tích đất sản xuất hạn hẹp chỉ chiếm 2,09%.
  • Đánh giá và lượng hóa chính xác các tác động tiêu cực của tập quán chăn thả tự do và khai thác rừng trái phép lên 1.259 loài thực vật cùng 370 loài động vật quý hiếm.
  • Đúc kết bài học thực tiễn sâu sắc từ sự thất bại của các dự án tài trợ trước đây nhằm khắc phục triệt để tâm lý trông chờ, ỷ lại trong cộng đồng dân cư.
  • Đề xuất thành công 4 nhóm giải pháp tích hợp giữa kiên cố hóa thủy lợi, nhân rộng chăn nuôi đặc sản, phát triển du lịch homestay và thực hiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng.
  • Khẳng định vai trò của việc lồng ghép công tác quản lý bảo tồn Vườn Quốc gia với Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp khả thi giúp cân bằng hoàn hảo giữa bài toán an sinh xã hội và bảo tồn thiên nhiên. Trong giai đoạn tiếp theo, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần khẩn trương đưa các khuyến nghị này vào kế hoạch hành động thực tế. Hãy liên hệ và khai thác ngay các dữ liệu chuyên sâu từ công trình này để triển khai hiệu quả các đề án phát triển sinh kế bền vững tại địa phương!