ĐẶT VẤN ĐỀ Cá cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali Bourret, 1934) có tên gọi khác là Cá cóc bụng hoa, Tắc kè nƣớc, Cá sấu cạn - là loài lƣỡng cƣ có đuôi đặc hữu của Việt Nam có vùng phân bố hẹp tại dãy Tam Đảo (Vĩnh Phúc) và Ba Bể (Bắc Kạn) (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998; Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng, 2009). Trong số 6 loài lƣỡng cƣ có đuôi đƣợc biết đến ở Việt Nam thuộc hai giống là Paramesotriton (2 loài) và Tylototriton (4 loài), thì loài Cá cóc tam đảo có đặc điểm hình thái đẹp nhất nên đƣợc nhiều khách du lịch khi đến Tam Đảo bắt về nuôi làm cảnh hoặc mua từ các lái buôn. Không những vậy, nhiều ngƣời còn sử dụng loài lƣỡng cƣ này để chữa các bệnh về hen suyễn, còi xƣơng…đã làm cho kích thƣớc quần thể của loài bị suy giảm mạnh ở ngoài tự nhiên. Trƣớc tình trạng đó, Cá cóc tam đảo đƣợc xếp ở cấp Nguy cấp (EN) trong Sách đỏ Việt Nam (2007); cấp VU trong Sách đỏ thế giới (IUCN, 2017) và nhóm IIB trong Nghị định 32/NĐ-CP/2006.
Mặc dù loài Cá cóc tam đảo đang đứng bên bờ tuyệt chủng bởi tình trạng khai thác của con ngƣời nhƣng các nghiên cứu về loài còn rất hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính và bảo tồn loài. Với xu thế thị trƣờng, loài Cá cóc tam đảo có thể là loài sinh vật cảnh tiềm năng nên việc tìm hiểu kỹ thuật nhân nuôi để nhân giống không những giúp hạn chế việc săn bắt loài Cá cóc tam đảo ngoài tự nhiên mà còn tạo cơ hội để phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. Trạm Đa dạng sinh học (ĐDSH) Mê Linh thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đƣợc thành lập theo quyết định số 1063/QĐ–KHCNQG của Giám đốc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) ngày 6/8/1999 với tổng diện tích là 170,3ha. Trạm ĐDSH Mê linh thuộc xã Ngọc Thanh, Thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc, giáp ranh với Vƣờn Quốc gia Tam Đảo theo hƣớng Đông.
Từ khi thành lập đến nay, Trạm đã thực hiện các chƣơng trình bảo tồn chuyển vị và nghiên 1 cứu 59 loài động vật có xƣơng sống gồm: 19 loài thú, 22 loài bò sát và 18 loài lƣỡng cƣ. Tại Trạm có khu vực bảo tồn bán hoang dã nuôi nhiều loài động vật thuộc các lớp thú, chim, bò sát và lƣỡng cƣ và đặc biệt đang nuôi loài Cá cóc tam đảo từ năm 2014. Các thông tin phỏng vấn ban đầu cán bộ của Trạm cho thấy, loài Cá cóc tam đảo đang nuôi sinh trƣởng thành công và đang tiến hành nuôi sinh sản thử nghiệm. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính của loài Cá cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali Bourret, 1934) và tìm hiểu kỹ thuật nuôi tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh phúc”.
Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bổ sung các đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính của loài trong điều kiện nuôi nhốt cũng nhƣ cung cấp các thông tin hữu ích nhằm hoàn thiện kỹ thuật nuôi loài lƣỡng cƣ quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình chăn nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam Trƣớc nhu cầu của xã hội, nghề nuôi động vật hoang dã nổi lên nhƣ một hƣớng đi mới nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng về các sản phẩm từ động vật, đồng thời giảm áp lực săn bắt động vật từ tự nhiên, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho ngƣời chăn nuôi, góp phần xóa đói giảm nghèo. Chăn nuôi động vật hoang dã đang ngày càng trở thành một nghề kinh doanh có thu nhập và hiệu quả kinh tế cao nhƣ: Nuôi Hƣơu sao, các loài khỉ, Nhím, Don, các loài cầy, trăn, rắn độc, Ba ba, Cá sấu, Ếch đồng, chim cảnh, cá cảnh… Chăn nuôi động vật hoang dã cũng đã hình thành nên những làng nghề tiêu biểu nhƣ: Nuôi Hƣơu sao ở Quỳnh Lƣu (Nghệ An), Hƣơng Sơn (Hà Tĩnh), Hiếu Liêm (Đồng Nai); nuôi Rắn hổ mang ở phƣờng Lệ Mật (quận Long Biên, Hà Nội), xã Vĩnh Sơn (huyện Vĩnh Tƣờng, Vĩnh Phúc); nuôi Nhím, Don ở Ba Vì, Thụy Phƣơng (Hà Nội), Cúc Phƣơng (Ninh Bình), Cát Bà (Hải Phòng); nuôi Ba ba ở nhiều địa phƣơng nhƣ (Hải Dƣơng, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh…).
Hoạt động chăn nuôi động vật hoang dã ở nƣớc ta hiện còn nhiều yếu kém về tài liệu kỹ thuật nhân nuôi, dịch vụ thú ý, vốn đầu tƣ, định hƣớng nhân nuôi và quy mô nhỏ lẻ. Hầu hết các cơ sở chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình và chƣa trở thành phong trào rộng rãi. Trong cả nƣớc chỉ có một số ít cơ sở chăn nuôi động vật hoang dã quy mô tập trung, với nhiều loài có thể kể đến là: Vƣờn thú Hà Nội, Thảo cầm viên Sài Gòn, Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng, Đảo Rều (Quảng Bình), Hòn Tre (Nha Trang), Trung tâm Giống Thụy Phƣơng Hà Nội, Trung tâm Cứu hộ Sóc Sơn (Hà Nội), Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc). Theo số liệu của Văn phòng CITES Việt Nam (2013), nƣớc ta có 22.357 cơ sở nhân nuôi, tăng gấp nhiều lần so với số cơ sở nhân nuôi đƣợc thống kê vào 3 năm 2007 (4.
Các cơ sở này đang nhân nuôi hơn 3 triệu cá thể động vật hoang dã. Tuy nhiên, số lƣợng các cơ sở và số lƣợng cá thể động vật đƣợc nuôi có thể lớn hơn rất nhiều vì rất nhiều cơ sở chƣa đăng ký với cơ quan quản lý CITES. Ngoài ra, các trại nuôi nhóm động vật hoang dã khác không cần đăng ký với cơ quan Kiểm lâm. Hiện nay có khá nhiều loài động vật hoang dã đang đƣợc nhân nuôi ở nƣớc ta, đa số phục vụ mục tiêu kinh tế nhƣ sản xuất thực phẩm và dƣợc liệu.
Hiện đã thống kê đƣợc 196 loài đang đƣợc nhân nuôi, bao gồm 111 loài động vật nguy cấp, quý, hiếm; 38 loài động vật thông thƣờng và 47 loài động vật hoang dã khác (Tổng cục lâm nghiệp, 2013). Trong số các loài đang đƣợc nhân nuôi ở nƣớc ta vẫn chƣa có loài Cá cóc tam đảo. Vì vậy, nghiên cứu về kỹ thuật nhân nuôi loài Cá cóc tam đảo sẽ góp phần đa dạng hóa động vật nuôi ở Việt Nam và có thể mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần bảo tồn loài lƣỡng cƣ quý hiếm, đặc hữu đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Sơ lƣợc về loài Cá cóc tam đảo Theo tài liệu Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998); Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (2009), Sách đỏ Việt Nam (2007), Sách đỏ thế giới (2017), Tra cứu sinh vật rừng Việt Nam (2016), các đặc điểm về hình thái, sinh học, sinh thái, tập tính, tình trạng và phân bố của loài Cá cóc tam đảo nhƣ sau: Tên phổ thông: Cá cóc tam đảo (tên gọi khác: Tắc kè nƣớc, Sa giông, Cá cóc bụng hoa).
Tên khoa học: Paramesotriton deloustali Bourret, 1934 Họ: Cá cóc (Platysternidae) Bộ: Ếch nhái có đuôi (Caudata) Đặc điểm nhận dạng: Cá cóc Tam Đảo có cơ thể dài giống nhƣ thằn lằn. Thân hình thuôn dài, hơi dẹt từ trên xuống. Dài thân khoảng 153,5-185 mm. Đuôi dài dẹp bên, mút đuôi tròn.
Trên da có nhiều mụn sù sì và tiết chất nhầy. Lƣng có màu xám đen với 2 gờ sần sùi chạy dọc 2 bên và một gờ giữa sống lƣng. Bụng có màu đỏ cam 4 với những đƣờng xám đen nối với nhau nhƣ hình mạng lƣới. Con cái thƣờng lớn hơn con đực.
Đặc biệt vào mùa sinh sản ở con đực có một dải xanh sáng chạy suốt hai bên mặt đuôi. Mép đuôi thƣờng đỏ da cam, nhất là phần gần lỗ huyệt. Cá cóc có 4 chi ngắn nhƣng khỏe, bò khá nhanh trên mặt đất. Trong nƣớc, Cá cóc tam đảo bơi chủ yếu bằng những uốn lƣợn của đuôi, chân áp sát thân mình.1: Cá cóc tam đảo - Paramesotriton deloustali (Bourret, 1934) Đặc điểm sinh học, sinh thái: Cá cóc tam đảo sống ở suối, độ cao 200 - 1000m.
Loài ăn tạp, thành phần thức ăn gồm các loài thảo mộc, côn trùng (ấu trùng và dạng trƣởng thành), trứng ếch nhái, ốc, nòng nọc, cá con, giun, bùn. Cá cóc đẻ vào cuối đông đầu xuân (tháng 1 - 4). Thụ tinh trong không hoàn toàn diễn ra trong môi trƣờng nƣớc. Ngoài tự nhiên, sau khi thụ tinh xong, cá cóc cái bò lên cạn đẻ trứng ở các đám lá mục, ẩm dƣới các tảng đá cách suối không xa.
Trong điều kiện nuôi chúng đẻ vào những giá thể có sẵn trong bể (rong, đá. Cá cóc cái đẻ nhiều lần trong một vụ, đẻ cả ban ngày và ban đêm, mỗi lần đẻ với số lƣợng trứng rất khác nhau (từ 2 - 36 quả). Tỷ lệ nở của trứng và sự phát triển của nòng nọc phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ môi trƣờng, nhiệt độ thích hợp nhất từ 17°C- 27°C. Nòng nọc có mầu đen, có mang ngoài mầu đỏ hồng ở hai bên mang tai, bụng sáng và sau khoảng 2 tháng ngả vàng và xuất hiện những mạng lƣới đen nhƣ họa tiết ở bụng con trƣởng thành.
Mang ngoài tiêu dần và biến mất ở tháng 4 - 5. Ở giai đoạn này, cá cóc thƣờng bò lên cạn (trong tự nhiên giai đoạn này vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu kỹ) (Sinh vật rừng Việt Nam, 2016). 5 Phân bố: Cá cóc tam đảo là loài đặc hữu của Việt Nam. Theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (2009), Cá cóc tam đảo đã đƣợc tìm thấy ở tỉnh Vĩnh Phúc (Tam Đảo) và Lào Cai.
Hiện nay, Cá cóc tam đảo đƣợc phát hiện ở nhiều địa phƣơng khác nhƣ: Khu vực dãy tam đảo nằm giữa 3 tỉnh: Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên; khu vực Ba Bể, Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn; Sín Mần (Hà Giang) (Sinh vật rừng Việt Nam, 2016). Ngoài ra tại Trung Quốc đã ghi nhận có sự xuất hiện của loài Cá cóc tam đảo (Zhang et al, 2017. The entire mitochondridae: Paramesotriton) with a new distribution record from China; DOI 10.1007/s12686-017-0804-3); Giá trị: Cá cóc tam đảo có giá trị về mặt bảo tồn, khoa học, thẩm mỹ, làm cảnh. Tình trạng: Hiện nay, Cá cóc tam đảo đang bị săn bắt mạnh ngoài tự nhiên, vùng phân bố hẹp nên chúng đang đứng bên bờ tuyệt chủng ở cấp Nguy cấp (EN) trong Sách đỏ Việt Nam (2007), cấp Sẽ nguy cấp (VU) trong Sách đỏ thế giới (IUCN, 2017).
Ngoài ra, loài thuộc nhóm IIB trong Nghị định 32 (2006).