Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nghiên cứu phân loại và đặc điểm sinh học chi Mần tưới (Eupatorium L. Các nghiên cứu phân loại chi Mần tưới (Eupatorium L.) Trên thế giới, họ Cúc (Asteraceae) là họ lớn nhất trong lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), có vùng phân bố gần như toàn thế giới. Họ Cúc (Asteraceae) gồm 30 tông, có khoảng 1600 chi và khoảng 23000 loài, mang các đặc điểm hình thái rất đa dạng và phức tạp.
Chúng thường sống ở vùng đồng cỏ, trong rừng và thảm thực vật trên núi, ít gặp ở vùng rừng nhiệt đới ẩm và độ cao thấp [25]. Chi Mần tưới (Eupatorium) được ghi nhận lần đầu tiên qua loài Eupatorium cannabinum L. bắt đầu từ hình vẽ của Tounefort (1700). Đến năm 1753, chi Mần tưới (Eupatorium) được C.
Linnaei công bố hữu hiệu trong công trình “Species Plantarum”, với 14 loài được mô tả chi tiết, trong đó loài Eupatorium cannabinum L. được coi là mẫu chuẩn của chi. Khi đó, tác giả phân chia các loài trong chi thành 6 nhóm dựa trên số lượng hoa và đặc điểm của hoa bao gồm [24, 50]: - Cụm hoa đầu có 4 hoa: E. - Cụm hoa đầu có 5 hoa: E.
- Cụm hoa đầu có 8 hoa: E. - Cụm hoa đầu gồm nhiều hoa: E. - Cụm hoa đầu có 15 hoa, hoa nhỏ: E. - Cụm hoa đầu có 20 hoa, hoa sắp xếp sát nhau và hoa nhỏ: E.
Năm 1836, khi nghiên cứu họ Cúc D. Candolle đã bổ sung thêm 280 loài so với Linnnaei C., đồng thời tác giả chia chi Mần tưới (Eupatorium) thành 3 loạt: Imbricata, Subimbricata và Eximbricata. - Loạt Imbricata gồm 4 nhóm nhỏ: Cylindrocephala, Pteropoda, Sessilifolia và Verticillata. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Loạt Subimbricata, tác giả phân chia thành 7 nhóm dựa trên số lượng hoa và cách mọc của lá.
- Loạt Eximbricata gồm 9 nhóm được phân chia dựa vào số lượng hoa, cách mọc của lá, hình dạng lá [48]. Một vài chi trong hệ thống phân loại của D.A Candolle được coi là các nhánh của chi Mần tưới (Eupatorium). Lúc này, tác giả phân chia thành 9 nhánh, trong đó một số nhánh là chi trong hệ thống của D.Candolle: Osmia Sch., Bulbostyles, Gyptis Cass. Baker kế thừa nghiên cứu của G.
Bentham chia chi Mần tưới (Eupatorium) thành 2 loạt với 9 nhánh. Loạt I: lá bắc ở tổng bao có kích thước khác nhau, lá bắc bên ngoài ngắn hơn lá bắc bên trong, có hình trứng – tam giác cân; gồm 5 nhánh. Loạt II: lá bắc ở tổng bao có kích thước gần như nhau, dạng hình đường hoặc hình mũi mác; gồm 4 nhánh. Tổng sổ loài trong chi là 153 loài [47].
- Loạt I gồm 5 nhánh: Osmia Benth. - Loạt II gồm 4 nhánh: Homolepis Baker. Hoffmann dựa trên hệ thống phân loại của D.A Candolle để phân chia chi Mần tưới (Eupatorium) thành các nhánh. Khi đó, chi Mần tưới (Eupatorium) được chia thành 8 nhánh, trong đó 3 nhánh là 3 loạt trong hệ thống của Candolle D.
và 5 nhánh còn lại là 5 chi cũng trong hệ thống của D.A Candolle: Chromolaena DC. Robinson khi nghiên cứu sâu về chi Mần tưới (Eupatorium) đã bổ sung thêm các một số đặc điểm hiển vi của hoa và quả như hầu hết có tuyến nhỏ và lông cứng, không có khí khổng ở mặt lưng của ống tràng, 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vòng đai của bao phấn không có, có lông trên gốc vòi nhụy, thùy của vòi nhụy có nhiều tế bào hình mụt, tế bào đỉnh của mào lông hình tù, không có cuống bầu riêng biệt. Do đó, tác giả đã nâng một số nhánh trong chi Eupatorium lên thành chi bao gồm: Praxelis, Chromolaena. Đồng thời chuyển một số loài sang chi Ayapana và các chi khác (King R., 1970) do đó, giới hạn của chi bị thu hẹp đáng kể [21, 22, 23, 24].
Sự phân chia chi Mần tưới (Eupatorium) qua các thời kì được trình bày tóm tắt trong Bảng 1. Theo hệ thống của Armen Takhtajan (2009), họ Cúc được chia làm 5 phân họ: Barnadesioideae, Mutisioideae, Carduoideae, Cichorioideae và Asteroideae [39]. Chi Eupatorium có vị trí như sau: Magnoliophyta Magnoliopsida Asteridae Asteranae Asterales Asteraceae Asteroideae Heliantheae Eupatorium Đối với các nước, một số công trình nghiên cứu về chi Mần tưới (Eupatorium L.) mang tính chất thống kê như một danh lục và đáng lưu ý là một số công trình sau. Fujibakama Zoku khi nghiên cứu về chi Mần tưới (Eupatorium) ở Nhật Bản (1965) đã ghi nhận được 5 loài bao gồm: E.
Thực vật chí Hong Kong ghi nhận được 4 loài thuộc chi bao gồm: E. Trong khi loài E. odoratum, hầu hết các tác giả đều chuyển sang chi Chromolaena [38]. Năm 2011, Chen Yilin khi nghiên cứu hệ thực vật Trung Hoa ghi nhận được 14 loài: E.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bên cạnh đó, Địa lý thực vật của chi cũng được tiến hành nghiên cứu chi tiết. Watanabe và cộng sự nghiên cứu về phát sinh chủng loại và địa lý phát sinh của chi Mần tưới (Eupatorium) bao gồm 23 loài Đông Nam của Bắc Mỹ, 25 loài Đông Á và 1 loài châu Âu. Sự phân bố này được nối với kiểu phân chia của các loài và các chi nhiệt đới như các yếu tố ở kỷ Đệ Tam ở Bắc bán cầu.
Một giả thiết kiểu phân bố này cho rằng có một loài thực vật cổ xưa quanh cực đã di cư trong suốt quá trình biến đổi khí hậu ở kỉ Đệ Tam. Dựa trên các dữ liệu về sinh học phân tử và tế bào học đã cung cấp bằng chứng về nguồn gốc phát sinh chi Mần tưới (Eupatorium) ở Bắc Mỹ. Chi đã phân tách ra 3 nhóm loài hình thái gồm: nhóm Uncasia (lá mọc đối chữ thập), nhóm Eutrochium (lá mọc vòng, gốc vòi nhụy mở rộng, có khí khổng trên thùy ống tràng, hoa màu đỏ tím), nhóm Traganthes (lá mọc cách hoặc mọc đối chữ thập). Sau đó, chúng di cư đến Đông Á và châu Âu.
Trong đó, nhóm loài châu Á là nhóm đơn nguyên và được tiến hóa từ loài có lá mọc đối chữ thập. Nhóm loài châu Âu có nguồn gốc từ loài có lá mọc đối chữ thập hoặc có tổ tiên chung với dòng châu Á [41]. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về chi Mần tưới (Eupatorium) đầu tiên phải kể đến công trình của Loureiro D., khi nghiên cứu hệ thực vật miền Nam Việt Nam (1790) đã mô tả 2 loài: E. Năm 2003, Nguyễn Tiến Bân đã ghi nhận 10 loài trong chi Mần tưới (Eupatorium) bao gồm: E.
Năm 2003, Phạm Hoàng Hộ bổ sung thêm 2 loài: E. quaternum DC và E. reesesii Wall, đồng thời mô tả 12 loài này [9]. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Hệ thống phân loại của chi Mần tưới (Eupatorium) qua các thời kì King R.
giả 1753 1836 1873 1876 1890 1970 Đặc Hình dạng cụm Đặc điểm đế hoa Đặc điểm các tế điểm Số lượng hoa trên mỗi Cách sắp xếp lá bắc hoa đầu, đặc Hình dạng, bào trên hoa và phân hoa đầu. trong tổng bao. điểm lá bắc và đế kích thước lá bắc. 6 nhóm 3 loạt 9 nhánh 2 loạt, 9 nhánh 8 nhánh 1.
Calycibus quadrifloris - Loạt 1: Imbricata 1. Thu hẹp giới hạn 2. chi Mần tưới 1. Chuyển một số chia 4.
Calycibus quindecim - Loạt 2: Subimbricata 6.Campuloclinium loài sang chi - Loạt 3: Eximbricata 7. Gyptis flosculis - Loạt 2: 6. khác, đồng thời 6. Disynaphia nâng một số 6.
Coleosanthus nhánh lên thành 7. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 2007, trong công trình “Thực vật chí Việt Nam” Lê Kim Biên đã đưa ra hệ thống phân loại chính thức cho họ Cúc (Asteraceae) với 2 phân họ, 12 tông, 122 chi. – Phân họ hoa ống Trib. – Tông Cúc bạc đầu Trib.
– Tông Mần tưới Trib. – Tông Cúc sao Trib. – Tông Mộc hương nam Trib. – Tông Hướng dương Trib.
– Tông Cúc vạn thọ Trib. – Tông Cải cúc Trib. – Tông Cúc hoàng tràng Trib. – Tông Hoa xu xi Trib.
10: Cynareae Less – Tông Thanh mộc hương Trib. 11: Mutisieae Cass – Tông Cúc ánh lệ Subfam. – Phân họ hoa lưỡi nhỏ Trib. – Tông rau diếp Trong đó, chi Mần tưới gồm 9 loài nằm trong tông Mần tưới (Eupatorieae), riêng loài E.
đã được chuyển sang chi Cỏ lào (Chromolena DC.) [3] Trib 2: Eupartorieae Cass. – Tông Mần tưới Gen. Forst – Cúc dính Gen. – Cỏ hôi Gen.
– Cỏ ngọt Gen. – Cỏ lào Gen. – Mần tưới Gen. Các nghiên cứu về giải phẫu chi Mần tưới (Eupatorium L.) Hiện nay, các nghiên cứu về giải phẫu chi Mần tưới (Eupatorium) còn khá hạn chế.
Metcalfe chỉ ra đặc điểm giải phẫu chung của họ Cúc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (Asteraceae), trong đó, một số đặc điểm của chi Mần tưới (Eupatorium) cũng được tác giả đề cập đến. Các đặc điểm đã nghiên cứu như: lông đơn bào – đa bào, lông tuyến cũng đơn bào hoặc đa bào thường nằm ở mặt dưới của lá, đôi khi hình thành dạng hạt nổi rõ. Các ống tiết ở lớp vỏ, vùng nội bì ở thân, trong một số loài có thể mở rộng trong cuống lá đến phiến lá [29]. Sherwin đã nghiên cứu chi tiết giải phẫu gỗ các loài thuộc tông Eupatorieae, một số loài thuộc chi Mần tưới cũng được tiến hành nghiên cứu.
Tác giả quan sát lượng lớn nhựa cây chứa trong các yếu tố mạch mà quan sát được ở chi Eupatorium (E. Còn các loài khác thì giọt nhựa cây được quan sát ở tế bào mô mềm (E. pittieri) hoặc có ở tế bào sợi và tế bào mô mềm ( E. Tinh thể có ở tế bào lỗ pith của loài E.
Các yếu tố mạch dài là đặc điểm của chi Mần tưới (Eupatorium). Bản thủng lỗ hình thang cũng được quan sát thấy: E. Sợi có vách ngăn ngang xuất hiện ở các loài: E. Nery cùng cộng sự (2014) đã nghiên cứu giải phẫu thân cây của loài Euparorium triplinerve Vahl.) để xác định kiểu hình thái cho loài.
Ở đây, nhóm tác giả đã xác định được 2 kiểu hình thái cho loài E. Đồng thời, nghiên cứu sự khác biệt giữa 2 kiểu của loài A. triplinerve trắng và tím [32]. Ở nước ta, hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu về giải phẫu của 3 loài E.
Giá trị sử dụng của một số loài thuộc chi Mần tưới (Eupatorium L.) Trên thế giới, nhiều loài trong chi đã được người dân sử dụng làm thuốc. perfoliatum được người Mỹ dùng để chữa trị một số bệnh thường gặp như sốt, cảm lạnh, ho, thấp khớp; ngoài ra họ còn sử dụng chúng như trà giúp hệ thống tiêu hóa tốt hơn (nhuận tràng). cannabium được dùng để giải nhiệt, lợi tiểu và thanh lọc máu, rễ chữa trị bệnh gan; người Hà Lan còn dùng lá của loài này phủ lên trên bánh mì 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tránh bị mốc. chinense là loài chứa chất độc (đặc biệt lá của chúng) nhưng loài này chữa mụn nhọt lớn, vết rắn cắn, ghẻ.