Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Vị trí phân loại và phân bố của Hổ mang chúa Ophiophagus hannah (Cantor, 1836) Tên Việt Nam: Rắn Hổ mang chúa, Hổ mang đen, Hổ mang chì, Hổ đước. Tên khoa học: Ophiophagus hannah (Cantor, 1836). Tên đồng nghĩa: Hamadryas hannah T.
Cantor, 1836; Naja hannah Bourret, 1927; Naia hannah Bourret, 1935; Ophiophagus hannah, C. Họ phụ Rắn cạp nong Bungarinae Họ Rắn hổ Elapidae Bộ phụ Rắn Serpentes Bộ Có vảy Squamata Lớp Bò sát Reptilia [33]. Hổ mang chúa phân bố khắp các vùng thuộc Nam và Đông Nam Á, nhưng không phổ biến (Hình 1.1), sống tập trung nhiều tại các khu rừng thuộc vùng núi cao [11],[33], đặc biệt gần các sông, suối, ao, hồ. Mật độ loài Hổ mang chúa giảm mạnh tại nhiều vùng phân bố do tình trạng phá rừng và săn bắt quá mức, được liệt kê trong Phụ lục II của CITES.1: Phân bố loài Hổ mang chúa trên thế giới ( ) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm hình thái loài Hổ mang chúa Họ Rắn hổ gồm các loài rắn độc, có đầu hình bầu dục, không phân biệt rõ với cổ, trên đầu có phủ vảy hình tấm ghép sát vào nhau. Thiếu tấm má, tấm gian đỉnh và hố má. Trong bộ răng có hai móc độc ở hai phía hàm trên, móc độc thường lớn hơn hẳn các răng khác và có rãnh hoặc ống dẫn nọc độc. Mí mắt dính liền và trong suốt [11].
Khoang miệng điển hình của các loài rắn hổ gồm: 1. Lỗ phóng chất độc; 3. Ống dẫn chất độc; 6. Khe họng (hình 1.
2: Khoang miệng điển hình của các loài Rắn hổ (theo Hickman) Trong Họ rắn hổ, loài Hổ mang chúa là loài rắn có nọc độc lớn nhất thế giới, với chiều dài thân có thể đạt 5. Con đực có kích thước lớn hơn, dày mình hơn con cái. Con trưởng thành màu sắc thay đổi: vàng ánh xanh, nâu xám, hoặc đen và có các vệt mầu vàng nhạt, nhỏ hẹp ngang trên suốt chiều dài thân; phần bụng có màu kem bẩn hoặc vàng nhạt, với các vảy trơn mềm. Con non có màu đen bóng với các khoang vàng hẹp (phần thân rất dễ nhầm với loài rắn cạp nong).
Giống như nhiều loài rắn khác, rắn Hổ mang chúa có thể điều chỉnh mở rộng xương vuông để nuốt những con LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 mồi lớn. Hổ mang chúa có 02 móc độc phía trước miệng đó là ống dẫn dịch độc vào trong con mồi giống như mũi kim tiêm. 3: Xương đầu rắn Hổ mang Hình 1. 4: Khoang miệng rắn Hổ chúa[32] mang chúa Hổ mang chúa là loài duy nhất thuộc giống Ophiophagus, trong khi hầu hết các loài khác của họ phụ Rắn cạp nong (Bungarinae) thuộc giống Naja.
Chúng có thể được phân biệt với các loài khác bởi kích thước và hình dạng phần đầu. Hổ mang chúa là loài có kích thước lớn hơn các loài khác trong họ Rắn hổ, sau phần đầu, phía trên có các băng màu trắng có hình giống chữ V ngược, trong khi hầu hết các loài thuộc giống Naja có các băng hình "mắt kính" (cặp hoặc đơn lẻ) [11] [29]. Nghiên cứu chung trên thế giới Trên thế giới, nghiên cứu về Bò sát nói chung trong đó có loài Hổ mang chúa đã được quan tâm từ lâu, song chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ phân loại. Năm 1786, Laurenti có công trình đầu tiên về mô tả và phân bố các loài thuộc giống Rắn hổ mang (Naja); Daudin (1803) công bố kết quả khảo sát về các loài rắn thuộc giống Cạp nong (Bungarus).
Năm 1846, Gunther đã báo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cáo kết quả điều tra riêng đối với các loài thuộc giống hổ chúa (Ophiophagus) [33], các loài thuộc giống Ophiophagus chủ yếu được mô tả tại Ấn Độ và nhiều vùng thuộc Nam Á. Từ 1924-1944, Bourret và cộng sự tiến hành điều tra khu hệ động vật trên toàn Đông Dương, trong đó có nghiên cứu Bò sát [29] và đặt tên loài Hổ mang chúa là Naja hannah Bourret, đây là công trình mang tính hệ thống đầu tiên về phân loại học động vật hoang dã tại Đông Dương và nhiều vùng của Việt Nam. Ông đã thống kê, mô tả 177 loài thằn lằn, 245 loài rắn và 171 loài ếch nhái [33]. Giai đoạn trước 1944, nhìn chung các nghiên cứu về Bò sát mới dừng lại ở phân loại và điều tra phân bố, việc đánh giá và nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái các loài còn ít được quan tâm.
Nghiên cứu về sinh học, sinh thái bò sát trong điều kiện tự nhiên đã được quan tâm trong những năm gần đây, tuy nhiên nghiên cứu sâu về sinh học, sinh thái loài rắn Hổ mang chúa rất hạn chế. Peter et al (1998) [theo 29] công bố kết quả nghiên cứu về các loài Rắn, Thằn lằn của Thái Lan và Đông Nam Á, có nêu sơ bộ đặc điểm sinh học, sinh thái, sinh sản và phân bố của các loài rắn, thằn lằn, rùa, cá sấu trong khu vực, trong đó có loài rắn Hổ mang chúa và một số loài rắn độc khác. Theo tác giả, Hổ mang chúa là loài rắn lớn và độc nhất trên thế giới, tập tính hung dữ, thường sống trong sinh cảnh rừng thưa, đôi khi bắt gặp tại các khu vực gần các khu dân cư. Hổ mang chúa sống trong hang của các loài động vật khác đã bỏ đi, dưới gốc các cây gỗ mục, ven sông suối, độ cao phân bố tới 2.
Thức ăn chủ yếu là các loài rắn khác, đôi khi ăn các loài thằn lằn, chuột, cóc.Đẻ mỗi lứa 20-51 trứng, có tập tính chuẩn bị ổ đẻ và canh trứng. Nghiên cứu về chăn nuôi rắn và rắn Hổ mang chúa nói riêng mới được quan tâm trong những năm gần đây tại một số quốc gia như: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Từ Phổ Hữu (2001) đã trình bày đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật chăn nuôi cho 10 loài rắn độc, trong đó có rắn Hổ mang chúa và loài Rắn hổ mang Trung Quốc, tác giả đánh giá việc nuôi rắn Hổ mang chúa tại Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện khí hậu không phù hợp. Vương Kiếm Bình (2002), có đề cập kinh nghiệm về kỹ thuật xây chuồng trại, thức ăn để chăn nuôi rắn có hiệu quả kinh tế cao của một số vùng nuôi rắn tại Trung Quốc, tuy nhiên, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu kỹ thuật nuôi loài Hổ mang Trung Quốc.
Sierra (2003), trong báo cáo nhan đề "Ophiophagus hannah: Captive care notes" (tạm dịch: Những ghi nhận về nuôi nhốt loài Hổ mang chúa) đã mô tả sơ bộ kỹ thuật nuôi rắn Hổ mang chúa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Tác giả đã đưa ra một số ghi nhận khi nuôi rắn Hổ mang chúa: (i) Người nuôi phải có kinh nghiệm; (ii) Không gian đủ rộng và (iii) điều kiện chăm sóc. Rắn Hổ mang chúa được nuôi trong chuồng gỗ có mặt kính để quan sát rắn được cho ăn chuột. Mùa sinh sản Hổ mang chúa có tập tính giao hoan, thời gian giao phối khoảng 1h, giao phối 2-3 lần trong mùa sinh sản.
Con non có chiều dài trung bình 18 inchs (45,72 cm). Các con non sinh ra cũng ăn chuột như bố mẹ của chúng [35]. Theo ghi nhận tại Vườn thú Philadelphia zoo [36], Hổ mang chúa có thể ăn 12 con chuột hoặc rắn nhỏ mỗi tuần, trong điều kiện vườn thú có thể sống đến 26 năm, con cái đẻ 20-50 trứng, ấp trong vòng 65-80 ngày, con non mới nở dài 18-20 inches (45,7 - 50,8cm) và là loài rắn thông minh nhất trong số các loài rắn nuôi tại vườn thú. Ngoài ra, theo nghiên cứu khác của Sean LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 (2002) [36] Hổ mang chúa đẻ từ 18-50 trứng/lứa, ấp từ 70-77 ngày, con non dài từ 12-20 inches (30,4 - 50,8cm), tuổi thọ khoảng 20 năm.
Tình hình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu khảo sát về Bò sát ếch nhái trong đó có loài Hổ mang chúa ở Việt Nam được bắt đầu từ thế kỷ XIX, tiên phong bởi các nhà nghiên cứu phương Tây như: Morice (1875), Anderson (1878), Tirant (1885), Boulenger (1890), Flower (1896), v. Các nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu đi sâu về điều tra khu hệ và phân loại, xây dựng danh mục bò sát cho các vùng. Từ khi Miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954) đặc biệt trong những năm gần đây nhiều công trình nghiên cứu về bò sát trong đó có rắn Hổ mang chúa đã được tiến hành ở một số địa phương trong cả nước bởi một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Đào Văn Tiến, Nguyễn Văn Sáng, Trần Kiên, Hồ Thu Cúc, Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Quảng Trưởng, v. Các công trình quan trọng trong giai đoạn này gồm: Đào Văn Tiến (1968, 1969, 1971) “Khóa định loại Bò sát Việt Nam” [17] [18], Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) nghiên cứu Bò sát - Ếch nhái, v.
Từ năm 1956 - 1975 trên toàn Miền Bắc thống kê được 159 loài Bò sát thuộc 2 bộ, 19 họ và 69 loài Ếch nhái thuộc 3 bộ, 9 họ. Đến năm 1985, công bố báo cáo danh lục khu hệ Bò sát - Ếch nhái Việt Nam gồm 160 loài Bò sát, 90 loài Ếch nhái [12]; Năm 1993 Hoàng Xuân Quang điều tra thống kê danh lục Bò sát - Ếch nhái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 94 loài Bò sát xếp trong 59 giống, 17 họ và 34 loài Ếch nhái của 14 giống, 7 họ, bổ sung cho danh lục Bò sát - Ếch nhái Bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung cho vùng phân bố 9 loài. Đến năm 1998, tác giả đã bổ sung 12 loài cho khu hệ Bò sát - Ếch nhái Bắc Trung Bộ, có 1 giống, 1 loài cho khu hệ Bò sát - Ếch nhái Việt Nam [32]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, (2005) lập “Danh lục Ếch nhái và Bò sát Việt Nam” đã thống kê 296 loài Bò sát và 162 loài Ếch nhái của Việt Nam.
Năm 2009 nhóm tác giải đã xuất bản: "Herpetofauna Of Vietnam" (Khu hệ bò sát ếch nhái Việt Nam) và công bố danh lục gồm 489 loài Bò sát và 172 loài Ếch nhái, mô tả vùng phân bố tự nhiên của từng loài. Theo các tác giả trên, thống kê mới nhất cho thấy ở Việt Nam, Bộ phụ rắn có 9 họ, trong đó có họ Rắn hổ (Elapidae) có 35 loài (15 giống) gồm 4 họ phụ: Họ phụ Rắn hổ mang (Elapinae); họ phụ Rắn cạp nong (Bungarinae); Họ phụ Rắn biển (Hydrophiinae) và họ phụ Đẻn cạp nong (Laticaudinae) [32]. Do bị khai thác quá mức, hiện nay nhiều loài thuộc Họ phụ Rắn cạp nong ở Việt nam được bảo vệ theo quy định trong nước và quốc tế.