Luận văn thạc sĩ về sinh địa hóa cây cọc rào Jatropha curcas tại Ba Vì và Hướng Hóa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu đặc điểm sinh địa hóa vùng đất tại ba vì hà nội và hướng hóa quảng trị đối với sự phát, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2014

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG

1.1. Tổng quan về cây Cọc rào

1.2. Tổng quan nghiên cứu về cây Cọc rào

1.3. Chu trình sinh địa hóa

1.4. Chu trình sinh địa hóa của đồng (Cu)

1.5. Chu trình sinh địa hóa của kẽm (Zn)

1.6. Chu trình sinh địa hóa của mangan (Mn)

1.7. Giới thiệu khái quát khu vực nghiên cứu

1.8. Điều kiện tự nhiên khu vực Ba Vì (Hà Nội)

1.9. Điều kiện tự nhiên khu vực Hướng Hóa (Quảng Trị)

2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp tổng hợp và kế thừa tài liệu

2.2. Phương pháp khảo sát thực địa và lấy mẫu

2.3. Phương pháp xử lý và phân tích mẫu

2.4. Mẫu cây Cọc rào

2.5. Phương pháp xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm sinh địa hóa vùng đất khu vực Ba Vì

3.2. Đặc điểm vỏ phong hóa khu vực Ba Vì

3.3. Đặc điểm môi trường đất khu vực Ba Vì

3.4. Hàm lượng Cu, Mn và Zn trong cây Cọc rào và hệ số tích lũy sinh học

3.5. Đặc điểm sinh địa hóa vùng đất khu vực Hướng Hóa

3.6. Đặc điểm vỏ phong hóa khu vực Hướng Hóa

3.7. Đặc điểm môi trường đất khu vực Hướng Hóa

3.8. Hàm lượng Cu, Mn và Zn trong cây Cọc rào và hệ số tích lũy sinh học

3.9. Ảnh hưởng của điều kiện sinh địa hóa khu vực Ba Vì và Hướng Hóa đối với sự phát triển của cây Cọc rào

3.10. Hiện trạng phát triển của cây Cọc rào tại hai khu vực nghiên cứu Ba Vì và Hướng Hoá

3.11. Ảnh hưởng của điều kiện sinh địa hóa khu vực nghiên cứu đối với sự phát triển của cây Cọc rào

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sinh địa hóa cây cọc rào Jatropha curcas

Cây cọc rào (Jatropha curcas) là một trong những loài cây có tiềm năng lớn trong việc sản xuất năng lượng sinh học và cải tạo môi trường. Nghiên cứu về đặc điểm sinh địa hóa của cây cọc rào không chỉ giúp hiểu rõ hơn về khả năng phát triển của cây mà còn mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng trong nông nghiệp và bảo vệ môi trường. Cây cọc rào có khả năng thích ứng với nhiều loại đất và điều kiện khí hậu khác nhau, từ đó tạo ra giá trị kinh tế cao cho người trồng.

1.1. Đặc điểm sinh học của cây cọc rào Jatropha curcas

Cây cọc rào có nguồn gốc từ Mexico và Trung Mỹ, hiện nay được trồng rộng rãi trên toàn thế giới. Cây có thể cao tới 20m, có khả năng sống lâu từ 30 đến 50 năm. Đặc điểm sinh học của cây bao gồm lá lớn, hoa đơn tính và quả nang chứa hạt có hàm lượng dầu cao, từ 30-35%.

1.2. Tầm quan trọng của cây cọc rào trong nghiên cứu sinh địa hóa

Cây cọc rào không chỉ được nghiên cứu về khả năng sản xuất dầu sinh học mà còn về khả năng cải tạo đất và xử lý ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu sinh địa hóa giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây, từ đó tối ưu hóa quy trình trồng trọt.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu cây cọc rào Jatropha curcas

Mặc dù cây cọc rào có nhiều lợi ích, nhưng việc nghiên cứu và phát triển cây cũng gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như điều kiện sinh thái không đồng nhất, sự biến động của khí hậu và đất đai có thể ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây. Đặc biệt, việc thiếu thông tin về đặc điểm sinh địa hóa tại các vùng trồng cây cọc rào là một trong những thách thức lớn.

2.1. Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cọc rào

Nhiệt độ, lượng mưa và độ pH của đất là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cọc rào. Cây cần điều kiện nhiệt độ từ 20-28 độ C và lượng mưa tối ưu từ 600-1200 mm/năm để phát triển tốt.

2.2. Thách thức trong việc cải tạo đất và bảo vệ môi trường

Việc trồng cây cọc rào trên đất cằn cỗi có thể gặp khó khăn trong việc cải tạo đất. Cần có các biện pháp kỹ thuật phù hợp để đảm bảo cây phát triển bền vững và không gây hại cho môi trường.

III. Phương pháp nghiên cứu sinh địa hóa cây cọc rào Jatropha curcas

Để nghiên cứu đặc điểm sinh địa hóa của cây cọc rào, các phương pháp khảo sát thực địa và phân tích mẫu đất được áp dụng. Việc thu thập dữ liệu từ các khu vực nghiên cứu như Ba Vì và Hướng Hóa giúp đánh giá chính xác hơn về điều kiện sinh thái và sự phát triển của cây.

3.1. Phương pháp khảo sát thực địa và lấy mẫu

Khảo sát thực địa được thực hiện để thu thập mẫu đất và cây cọc rào. Các mẫu này sẽ được phân tích để xác định hàm lượng các nguyên tố vi lượng như Cu, Zn, Mn, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.

3.2. Phương pháp xử lý và phân tích mẫu

Mẫu đất và cây sẽ được xử lý bằng các phương pháp hóa học và sinh học để xác định các chỉ tiêu sinh địa hóa. Kết quả phân tích sẽ giúp đánh giá được khả năng tích lũy của cây cọc rào trong môi trường.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của cây cọc rào Jatropha curcas

Kết quả nghiên cứu cho thấy cây cọc rào có khả năng tích lũy các nguyên tố vi lượng trong điều kiện sinh địa hóa khác nhau. Điều này mở ra cơ hội ứng dụng cây cọc rào trong việc cải tạo đất và sản xuất năng lượng sinh học. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cây có thể được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau với năng suất cao.

4.1. Đặc điểm sinh địa hóa vùng đất Ba Vì và Hướng Hóa

Kết quả phân tích cho thấy vùng đất Ba Vì có hàm lượng Cu, Zn, Mn cao hơn so với Hướng Hóa, điều này ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của cây cọc rào tại Ba Vì.

4.2. Ứng dụng cây cọc rào trong cải tạo đất và sản xuất năng lượng

Cây cọc rào không chỉ giúp cải tạo đất mà còn có thể được sử dụng để sản xuất dầu sinh học, góp phần vào việc phát triển năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu cây cọc rào Jatropha curcas

Nghiên cứu về cây cọc rào Jatropha curcas đã chỉ ra rằng cây có tiềm năng lớn trong việc cải tạo đất và sản xuất năng lượng sinh học. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình trồng trọt và khai thác giá trị của cây. Tương lai của cây cọc rào hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nông nghiệp và bảo vệ môi trường.

5.1. Triển vọng nghiên cứu và phát triển cây cọc rào

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh địa hóa và khả năng thích ứng của cây cọc rào tại các vùng sinh thái khác nhau để tối ưu hóa năng suất.

5.2. Hướng đi mới cho ứng dụng cây cọc rào trong nông nghiệp

Cây cọc rào có thể được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp bền vững, không chỉ giúp cải tạo đất mà còn cung cấp nguồn năng lượng tái tạo cho tương lai.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Sự khai thác và sử dụng quá mức nguồn nhiên liệu hóa thạch vào cuối thế kỷ 20 đã khiến trữ lượng của chúng giảm mạnh, đồng thời góp phần làm gia tăng ô nhiễm môi trường và gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu. Trong bối cảnh đó, rất nhiều quốc gia đang nỗ lực tìm kiếm một loại năng lượng mới thân thiện với môi trường và năng lượng sinh học chính là một nguồn năng lượng đang được đặc biệt chú ý. Việc trồng các loại cây lấy dầu, đặc biệt là cây Cọc rào (Jatropha curcas) để sản xuất dầu sinh học là một trong những giải pháp được nhiều quốc gia lựa chọn. Ngoài ra, với đặc tính thích ứng với cả vùng đất cằn cằn cỗi, suy thoái, các vùng hoang hóa, đất cát khô hạn, cây Cọc rào còn được trồng để góp phần cải tạo môi trường đất.

Cây Cọc rào có nguồn gốc từ Mehico và Trung Mỹ, hiện nay được trồng rộng rãi trên thế giới, nhất là các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Indonexia, Thái Lan, Malayxia, Myanma, Madagasca, Zambia, Ghana, Brazil… Rất nhiều công trình đã tập trung nghiên cứu về hàm lượng dầu trong hạt cây Cọc rào, khả năng và hiệu quả chiết xuất dầu từ cây Cọc rào, các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển và sản lượng của cây, khả năng sử dụng cây vào nhiều mục đích khác nhau như cải tạo đất, xử lý ô nhiễm môi trường, chữa bệnh… Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và phát triển cây Cọc rào để sản xuất dầu diesel sinh học được đặc biệt chú ý sau khi đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến 2025” do Phó Thủ tướng phê duyệt và “Nghiên cứu, phát triển và sử dụng sản phẩm cây Cọc rào (Jatropha curcas) ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2015 và tầm nhìn đến 2025” do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt. Các nghiên cứu về cây Cọc rào tập trung vào một số vấn đề như khả năng sản xuất diesel sinh học, đặc tính thực vật của cây, biến động năng suất và hàm lượng dầu trong hạt, các biện pháp kỹ thuật thâm canh. Mặc dù cây Cọc rào được phát hiện mọc tự nhiên tại nhiều vùng sinh thái khác nhau như vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, HV: Nguyễn Thị Duyên 1 NHD: TS. Nguyễn Thị Hoàng Hà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học vùng Đông Nam Bộ, nhưng kết quả trồng thử nghiệm cho thấy cây trồng tại các vùng sinh thái khác nhau có sản lượng hạt khác nhau.

Bên cạnh đó, phần lớn cây trồng tại vùng trung du miền núi phía Bắc sinh trưởng kém, tỷ lệ cây chết cao, sản lượng thấp… Nhận thấy, đặc điểm sinh địa hóa tại các vùng đất trồng cây có vai trò quan trọng đến sự phát triển của cây, học viên lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh địa hóa vùng đất tại Ba Vì (Hà Nội) và Hƣớng Hóa (Quảng Trị) đối với sự phát triển cây Cọc rào (Jatropha curcas)” với mục tiêu và nhiệm vụ như sau: Mục tiêu: Đánh giá được đặc điểm sinh địa hóa vùng đất Ba Vì và Hướng Hóa đối với sự phát triển của cây Cọc rào. Điều tra, thu thập tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, địa chất, khí hậu khu vực Ba Vì và Hướng Hóa; 2. Tổng quan nghiên cứu về cây Cọc rào trên thế giới và tại Việt Nam; đặc điểm sinh thái của cây Cọc rào; 3. Nghiên cứu đặc điểm sinh địa hóa vùng đất Ba Vì và Hướng Hóa; 4.

Nghiên cứu chu trình sinh địa hóa một số nguyên tố vi lượng cần thiết (Cu, Mn, Zn) đối với sự phát triển của cây Cọc rào; 5. Nghiên cứu, đánh giá được ảnh hưởng của điều kiện sinh địa hóa đến sự phát triển của cây Cọc rào. HV: Nguyễn Thị Duyên 2 NHD: TS. Nguyễn Thị Hoàng Hà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học CHƢƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.

Tổng quan về cây Cọc rào Cây Cọc rào có tên khoa học là Jatropha curcas, thuộc chi Cọc rào, họ Thầu dầu. Cây Cọc rào có nguồn gốc từ Mexico và Trung Mỹ (Benge và Officer, 2006). Sau khi được người Bồ Đào Nha mang qua Cape Verde, cây Cọc rào lan truyền sang châu Phi, từ đó nó được trồng ở nhiều nước và trở thành cây bản địa ở khắp các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới trên toàn thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Indonexia, Malayxia, Philipin, Thái Lan, Nam Phi. Cây Cọc rào có mặt ở Việt Nam từ trước thế kỉ XIV.

Cây Cọc rào mọc hoang dại tại nhiều vùng sinh thái khác nhau như: vùng trung du miền núi phía Bắc (Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lạng Sơn); vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Quảng Trị); vùng duyên hải Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa); vùng Đông Nam Bộ (Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng) (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008). Hiện nay cây được trồng rải rác ở nhiều địa phương như Đồng Nai, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Thọ, Quảng Trị… (Lê Quốc Huy và nnk, 2008). Cây Cọc rào vẫn là cây bụi với các nhánh lan rộng, cây phát triển lên đến 20 m trong điều kiện thuận lợi (Benge và Officer, 2006). Cây được nhân giống từ hạt thường có năm rễ, trong đó có một gốc rễ chính và bốn rễ phụ.

Cây được nhân giống bằng phương pháp hom thường chỉ phát triển rễ phụ và rễ chính chỉ có thể dài bằng 1/2 hoặc 1/3 chiều dài của một rễ cây thông thường. Cây có thể sống được 30 – 50 năm nên khi trồng loại cây này chỉ mất công trồng một lần đầu và cho thu hoạch các năm về sau (Nguyễn Công Tạn, 2008). Thân cây Cọc rào có màu xám trắng, vỏ mịn, có mủ. Lá lớn có màu xanh nhạt sắp xếp trên cây theo kiểu so le.

Cây có cơ chế rụng lá vào mùa đông. Bằng cách này, cây có thể sống được nhiều tháng với hàm lượng nước tối thiểu trong cơ thể. Hoa của loài cây này ra theo cụm và hình thành ở các nách lá. Cây thường ra hoa vào cuối mùa nóng với kiểu ra hoa đơn tính đôi khi có hoa lưỡng tính.

Nếu cây HV: Nguyễn Thị Duyên 3 NHD: TS. Nguyễn Thị Hoàng Hà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học có điều kiện tăng trưởng liên tục sẽ xảy ra sự mất cân bằng giữa nhụy và nhị, kết quả là số lượng hoa cái sẽ cao hơn. Sau thời gian ra hoa thì quả Cọc rào được hình thành, thường là sau mùa đông. Tuy nhiên, nó có thể ra vài mùa trong năm nếu đất có độ ẩm tốt và nhiệt độ đủ c ao.

Mỗi cụm hoa cho khoảng mười quả nang, đen, hình trứng, dài và rộng 2 – 2,5 cm. Trong mỗi quả có hai, ba vách ngăn khi quả trưởng thành và vỏ khô lại (Brittaine và Lutaladio, 2010). Cây và hạt Cọc rào tại khu vực Hƣớng Hóa Hạt là sản phẩm người trồng quan tâm nhất. Hạt được thu hoạch khi vỏ hạt chuyển từ màu xanh sang màu vàng.

Mỗi quả có thể cho 3 – 4 hạt. Hạt thuôn dài giống như hạt thầu dầu nhỏ, có màu đen, vỏ hạt mỏng (Brittaine và Lutaladio, 2010). Hàm lượng dầu trong hạt của Cọc rào dao động trong khoảng từ 18,4 đến 42,3% nhưng thông thường rơi vào khoảng từ 30 đến 35% (Heller, 1996). Tất cả lượng dầu gần như được trữ lại trong hạt, nơi mà hàm lượng dầu đạt khoảng 50 – 55% (Jongschaap và nnk, 2007).

Điều này vượt trội hơn khi so sánh với hạt lạc (42%), hạt cải dầu (37%), hạt đậu nành (14%) và hạt hướng dương (32%) (Jongschaap và nnk, 2007). Các chất chứa trong thành phần của cây (ngoài dầu) rất đa dạng như N, P, Ca, Mg, Fe, Cu (Nguyễn Công Tạn, 2008). Hạt Cọc rào chứa chủ yếu là dầu thô và protein trong khi vỏ phần lớn là chất xơ. Trong vỏ HV: Nguyễn Thị Duyên 4 NHD: TS.

Nguyễn Thị Hoàng Hà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Khoa học chứa nhiều protein và cacbonhydrate (Nguyễn Công Tạn, 2008). Vỏ và nhân hạt là sản phẩm để khai thác dầu, tuy nhiên trong hạt có chứa một số hợp chất độc hại bao gồm cả lectin, saponin, phorbol là các chất gây ung thư, và chất ức chế trypsin (Benge và Officer, 2006). Hạt giống của cây cũng có hàm lượng toxalbumin và curcin cao. Một lượng nhỏ ricin bằng (1/108%) trọng lượng cơ thể đã có thể gây tử vong cho người dùng (Nguyễn Công Tạn, 2008).

Cây Cọc rào là loài cây đa mục đích, tất cả các phần của cây đều có giá trị sử dụng (Hình 1. Thân cây được dùng để làm hàng rào chăn nuôi, chống xói mòn, làm phân xanh, làm củi. Vỏ quả, lá và mủ cây thường được người dân sử dụng để chữa bệnh viêm nhiễm và làm lành vết thương rất hiệu quả. Riêng quả và vỏ quả dùng để cải tạo, làm sạch đất và sản xuất khí đốt sinh học.

Cây Cọc rào có năng suất sinh học và hàm lượng chất dinh dưỡng cao do đó có thể sử dụng bã ép dầu nguyên liệu làm phân bón hữu cơ, thành phần hoạt chất của phế liệu có khả năng sử dụng làm chế phẩm phòng trừ sâu bệnh. Đặc biệt hàm lượng dầu cao có trong hạt của cây không chỉ dùng để làm nhiên liệu sinh học mà còn thể làm xà phòng, làm thuốc trừ sâu, chất diệt nhuyễn thể… Mỗi loài cây sinh trưởng và phát triển đều cần có những yêu cầu sinh thái nhất định về nhiệt độ, nước, độ ẩm, ánh sáng, chất dinh dưỡng. Cọc rào có biên độ sinh thái khá rộng, có thể thích nghi với biên độ dao động khí hậu và chất lượng đất tương đối lớn, tuy nhiên để đạt sản lượng tốt cây cần được trong điều kiện nhất định. Nhiệt độ: Cây Cọc rào sinh trưởng và phát triển ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, với vùng canh tác thuận lợi là từ vĩ độ 300 Bắc đến 350 Nam.

Loài cây này cũng phát triển tốt ở những vùng mực nước biển thấp hơn, khoảng 0 đến 500m so với mực nước biển. Cọc rào là loài thực vật không dễ bị ảnh hưởng bởi độ dài của ngày và có thể nở hoa vào bất kì thời điểm nào trong năm (Heller, 1996). Nhiệt độ lý tưởng là vào khoảng từ 20 – 28 0C (Brittaine và Lutaladio, 2010). HV: Nguyễn Thị Duyên 5 NHD: TS.

Nguyễn Thị Hoàng Hà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ