Mở đầu ( 02 trang) Chương 2: Tổng quan (24 trang) Chương 3: Nguyên vật liệu, hóa chất, thiết bị, phương pháp nghiên cứu (11 trang) Chương 4: Kết quả và bàn luận (11 trang) Chương 5: Kết luận và kiến nghị (01 trang) 16 CHƯƠNG 3. Tổng quan cây đinh lăng 3. Mô tả thực vật Bảng 3. Mô tả thực vật của cây đinh lăng Giới (Kingdom) Thực vật (Plantae).
fruticosa Nguồn: https://en.org Tên khoa học : Polyscias fruticosa (L. Tên thường gọi : Đinh lăng, đinh lăng lá xẻ, cây gỏi cá, nam dương lâm, nhân sâm đất. Tên đồng nghĩa : Panax fruticosus, Nothopanax fruticosus, Aralia fruticosa, Tieghtôiopanax fruticosus. Tên nước ngoài: Ming Aralia, Gingsen free (Anh); Polyscias (Pháp).
Đinh lăng là cây gỗ nhỏ, cao 0,5-2m. Thân nhẵn, không gai, ít phân nhánh, mang nhiều vết sẹo to màu xám, các nhánh non có nhiều lỗ bì lồi. Lá kép mọc so le, có bẹ, phiến lá xẻ 3 lần lông chim, mép có răng cưa không đều, chóp nhọn, lá dài 20-40cm. 17 Lá chét có dạng màng, phần nhiều khía răng cưa hay chia thùy.
Lá chét và các loại lá đều có cuống, có mùi thơm khi vò nát. Cây đinh lăng 3. Nguồn gốc và phân bổ Đinh lăng lá xẻ (Polyscias fruticosa (L.) Harms, Araliaceae) có nguồn gốc ở vùng đảo Polynesie, Thái Bình Dương, sau này tác dụng của cây đinh lăng trở nên phổ biến và được trồng ở Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lào,… Ở Việt Nam, lá đinh lăng là dược liệu quý được sử dụng phổ biến trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh như viêm nhiễm, xơ vữa động mạch, tiểu đường,. Cây đinh lăng là cây lâu năm, ưa ẩm, ưa sáng, có khả năng chịu hạn.
Cây không chịu đựng được úng hạn. Cây có biên độ sinh thái rộng, phân bố trên khắp các vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát. Cây phát triển mạnh khi nhiệt độ dưới 25oC (từ giữa thu đến cuối xuân). Cây đinh lăng thích hợp ở những vùng khí hậu nhiệt đới có hai mùa rõ rệt và thường được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Tuy nhiên về yêu cầu nhiệt độ và lượng mưa cây đinh lăng cũng có thể thích hợp ở các tỉnh miền nam như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Các tỉnh Đồng Nai, Đắk Lắk đều có thể thích hợp để trồng cây đinh lăng. Các hợp chất có hoạt tính sinh học trong đinh lăng Các hợp chất có hoạt tính sinh học phân bố khắp mọi bộ phận của cây đinh lăng. Vỏ rễ và lá đinh lăng chứa saponin, alcaloid, vitamin B1, B2, B6, vitamin C, 20 loại acid amin, glycosid, phytosterol, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lượng và 21% đường.
Trong lá chứa saponin triterpenoid (1. [1] Trong thân củ đã tìm thấy có các alkaloid, glucoside, saponin, flavonoid, tanin, vitamin B1 các acid amin trong đó có lysine, cystein, và methionine… là những acid amin không thể thay thế được. Tình hình nghiên cứu về đinh lăng trong và ngoài nước Cây đinh lăng chứa nhiều các hợp chất có hoạt tính sinh học quý nên được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu cả trong lĩnh vực y dược, thực phẩm và mỹ phẩm. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Bảng 3.
Các công trình nghiên cứu về cây đinh lăng trên thế giới Năm Tác giả nghiên cứu Công trình nghiên cứu Lutomski và cộng Tách chiết từ rễ đinh lăng 5 hợp chất thuộc loại 1992 sự hợp chất polyacetylen [3] Chiết xuất từ lá đinh lăng acid 3-O-β-D- Chaboud A. và galactopyranosyl-(1→2)-β-D- 1995 cộng sự glucopyranosyloleanolic, là một loại saponin triterpenoid [4] Trích ly từ lá đinh lăng acid 3-O-α-L- Chaboud A. và rhamnopyranosyl-(1→4)-β-D-glucopyranosyl- 1996 cộng sự 28-O-β-Dglucopyranosyl-oleanolic, một saponin triterpenoid [5] Đánh giá hoạt tính chống viêm và tính an toàn GA Koffuor và 2014 của chiết xuất Polyscias fruticosa (L.) Harms cộng sự trong điều trị bệnh hen suyễn [6] 19 Đánh giá khả năng ức chế niêm mạc, chống ho GA Koffuor và 2015 và tính an toàn của Polyscias fruticosa (L.) cộng sự Harms (Araliaceae) trong điều trị hen suyễn. Tình hình nghiên cứu trong nước Bảng 2.
Các công trình nghiên cứu về cây đinh lăng ở Việt Nam Năm Tác giả Công trình nghiên cứu Nguyễn Thới Nhâm Công bố trong thành phần của rễ và lá đinh 1990 và cộng sự lăng [9] Khảo sát hàm lượng saponin toàn phần trong Võ Xuân Minh và các bộ phận của cây Đinh lăng với kết quả: Rễ 1991 cộng sự (0,49%), vỏ rễ (1,00%), lõi rễ (0,11%) và lá (0,38%) [10] Nguyễn Thị Nguyệt Trích ly được acid oleanolic [11] 1992 và cộng sự Nguyễn Thị Thu Thử nghiệm tác dụng chống trầm cảm và 2001 Hương và cộng sự stress của Polyscias fruticosa [12] 3. Hợp chất saponin triterpenoide 3. Tổng quan về saponin Saponin là một hợp chất glycoside tự nhiên có cấu tạo gồm 2 phần là Aglycol (còn gọi là genin/sapogenin) và phần đường. Phần aglycol (sapogenin) 20 Sapogenin có cấu trúc triterpen với khung cơ bản 30 carbon hoặc steroid với 27 carbon dẫn xuất từ khung cholestan.
Trên các khung cơ bản của sapogenin, các sapogenin khác nhau bởi mức độ oxy hóa trên khung hay vị trí, số lượng của các nhóm thế (thường là nhóm hydroxyl -OH, đôi khi gặp nhóm oxo hay sulfat). Nhóm -OH có thể là tự do hay glycosid hóa với đường (hoặc acyl hóa với các acid hữu cơ). Số lượng và các vị trí thế trên khung cũng không nhiều, ở vị trí C-3 của sapogenin gần như luôn có nhóm -OH. Nhóm -OH này trong đa số trường hợp có định hướng β.
Đây cũng là vị trí gắn với phần đường của đa số saponin. Với số lượng không nhiều các sapogenin, sự đa dạng của các saponin chủ yếu là do thành phần, số lượng và vị trí các đường trong phân tử. Ngoài ra, còn có thể gặp các dây nối đôi trên khung. Cấu trúc các aglycone khác nhau của saponin Phần đường Đa số saponin có từ 1-2 mạch đường (được gọi là các monodesmosid và bidesmosid - desmos = mạch).
Ở các monodesmosid, phần đường gắn vào sapogenin hầu hết ở vị trí C-3 bằng dây nối glycosid. Saponin có thể có thêm mạch đường thứ hai. Những saponin có 2 mạch đường (bidesmosid) như sarsaparillosid và avencosid A. Tổng số đơn vị đường trong một saponin có thể tới 11 đơn vị, nhưng số đường trên một mạch được biết tới nay tối đa là 8.
Số đơn vị đường trong saponin thường là 1-4 đường. Đường trong saponin là các đường thông thường như β-D-glucose, β-D-xylose, α-L- rhamnose và α-L-arabinose.Đôi khi cũng gặp các acid uronic, chủ yếu là acid glucuronic như trường hợp của glycyrrhizin trong cam thảo. Mạch đường có thể là mạch thẳng hay phân nhánh. Nhóm -OH của đường cũng có thể được acyl hóa bởi acid hữu cơ.
21 Trong một số trường hợp, phần đường gắn vào saponin không qua dây nối glucosid mà là dây nối ester (acylglycosid), thường là do chức acid ở C-28 trong saponin triterpenoid. Các chất như vậy gọi là pseudoglycosid. Khi saponin có hai mạch đường thì luôn có một đường ở C-3, mạch còn lại ở C-26 của saponin steroid hay là một ester ở C-28 của saponin triterpenoid. Ít gặp các saponin có ba mạch đường hay mạch đơn.
Phân loại Dựa trên cấu trúc hóa học của phần genin người ta chia saponin thành hai nhóm lớn là saponin triterpenoid và saponin steroid. Mỗi nhóm lại được chia thành nhiều nhóm nhỏ. Saponin triterpenoid: Phần genin có 30 carbon, cấu tạo bởi 6 đơn vị hermiterpen nối với nhau theo nguyên tắc đầu đuôi. Các saponin này được chia thành hai loại là Saponin triterpenoid năm vòng (pentacylic) với khung triterpen có cấu trúc năm vòng và Saponin triterpenoid bốn vòng (tetracyclic) khung triterpen có cấu trúc bốn vòng.
Saponin steroid: Cấu trúc cơ bản là khung cholesterol với 27 carbon trong đó mạch nhánh của khung steroid thường đóng vòng với dị tố oxy hay nitơ tạo thành một hay hai dị vòng là E (năm cạnh) và F (6 cạnh). Các saponin nhóm này thường ít có nhóm thế trên khung, ngoại trừ nhóm –OH ở C-3. Nối đôi có thể gặp ở C-5. Sự khác biệt giữa các biệt giữa các saponin là trên mạch nhánh để tạo nên các nhóm khác nhau.
Saponin steroid được chia thành 2 phân nhóm là saponin steroid thông thường với dị tố trong vòng E và F chỉ là oxy và Saponin steroid alkaloid với N trong phân tử. Phân loại saponin theo cấu trúc hóa học Saponin triterpenoid Nhóm oleanan Nhóm ursan Nhóm taraxasteran Saponin triterpenoid năm vòng Nhóm lupan Nhóm hopan Nhóm khác Saponin triterpenoid bốn vòng Nhóm dammaran Nhóm lanostan 22 Nhóm tirucallan Nhóm cucurbitan Nhóm spirosan Saponin steroid Nhóm furostan Nhóm aminofurostan Saponin steroid Saponin steroid alkaloid Nhóm spirosalan Nhóm solanidan Saponin steroid nhóm khác 3. Tính chất hóa lý của Saponin 3. Tính chất vật lý: Saponin triterpenoid có các tính chất đặc trưng của saponin: - Thường không màu.
- Thường ở dạng vô định hình, đa số có vị đắng. Tan được trong dung môi có nước, tan khá chuyên biệt trong n- butanol bão hòa nước, kém tan trong các dung môi hữu cơ kém phân cực, rất ít tan trong aceton, ether, hexan. Do đó người ta dùng 3 dung môi này để tủa saponin. Tính chất hóa học: Saponin có những tính chất hóa học như: - Tính chất tạo bọt và bền khi lắc với nước: đây là tính chất đặc trưng nhất của saponin do phân tử saponin lớn và có đồng thời một đầu ưa nước và một đầu kỵ nước.
Tính chất này làm cho saponin giống xà phòng có tính nhũ hóa và tẩy sạch. - Tính phá huyết: Ðây cũng là tính chất đặc trưng của saponin, làm phá vỡ hồng cầu ngay ở nồng độ rất loãng. Người ta cho rằng tính phá huyết có liên quan đến sự tạo 23 phức giữa saponin với cholesterol và các este của cholesterol trong màng hồng cầu, nhưng có nhiều trường hợp chỉ số phá huyết và khả năng tạo phức với cholestrerol không tỉ lệ thuận với nhau nên phải xét ảnh hưởng của saponin trên các thành phần khác của màng hồng cầu. - Tính độc với cá và một số động vật máu lạnh, động vật thân mềm: tính chất này được giải thích do saponin làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp làm mất các chất điện giải cần thiết.
Tính tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3- β – hydroxysteroid khác: đôi khi người ta lợi dụng tính chất này để tách saponin hoặc ngược lại, dùng saponin để tách hoặc tinh chế những chất 3 – β hydroxysteroid khác. Hoạt tính sinh học của saponintrieterpenoide và ứng dụng Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm trên động vật và nghiên cứu invitro về công dụng của saponin triterpenoide. Những công dụng điển hình của hợp chất này là: 3. Khả năng sản sinh collagen Năm 1978, Poizot và Dumez đã nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp saponin triterpenoid lên da, thử nghiệm được tiến hành trên chuột và thỏ.
Kết quả cho thấy hỗn hợp chưa saponin triterpenoid góp phần làm màu liền vết thương.