Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VAN DE SAN XUẤT SAN PHAM TRUYEN HÌNH _ TRONG MOI TRUONG TRUYEN THONG SO 1. Cơ sở lý luận van đề sản xuất san phẩm truyền hình trong môi trường truyền thông số 1. Một số khái niệm được sử dung trong luận văn 1. Môi tường truyền thông số - Khái niệm (quan niệm về môi trưởng truyền thông số) Theo Victor Wang - tác giả cuốn sách “Số tay Nghiên cứu về Kết quả và Co hội Hoc tập trong Kỷ nguyên Kỹ thuật so” (tập 2), Nha xuất bản IGI r A Global, năm 2016 thì “Môi truong truyền thông số dé cập đến không gian trực tuyến nơi các cá nhân thiết lập và duy trì các tương tác xã hội ảo với những người khác.
Mục đích cua việc thực hiện các tương tác xã hội ao như vậy giữa những người tham gia có thể khác nhau. Nguyễn Van Dững, "Môi trường truyền thông số là môi trường truyền thông do kỹ thuật và công nghệ số làm nên tảng, có thể tạo ra những khả năng siêu việt cho hoạt động truyền thông". Những khả năng siêu việt đó là, (1) tạo ra khả năng siêu kết nối xã hội; (2) khả năng siêu tương tác xã hội; (3) khả năng tạo ra nhóm công chúng chủ động; (4) tạo ra hệ dữ liệu siêu lớn - Bigdataa; (5) tạo ra hệ sinh thái truyền thông online và siêu thị sản phẩm báo chí- truyền thông số; ." Từ các khái niệm trên, theo tác giả Luận văn, Môi trường truyền thông số là môi trường truyền thông dựa trên nền tảng kỹ thuật và công nghệ số. Nó có khả năng tạo ra siêu kết nỗi.
Từ đây hình thành các khái niệm mới như báo chí đa phương tiện, báo chí đa nên tảng, công chúng mới, công chúng chủ động, các phương tiện truyền 17 thông mới, phương thức giao tiếp mới. Chính kỹ thuật và công nghệ số là yếu tố có vai trò quyết định tính chất môi trường truyền thông số với đặc tính nồi trội là khả năng siêu kết nối. Trong ấn phẩm chuyên khảo “Chuyển đổi số báo chí — Một số van dé lý luận”, theo TS Trần Quang Diệu trong bài biết “Mô hình tòa soạn hội tụ trong bối cảnh chuyên đổi số hiện nay” thì “khi công nghệ số và truyền thông số ra đời, các phương tiện truyền thông ngày càng có xu hướng tích hợp, tương tác và hỗ trợ nhau bằng các phương thức da dang và phức tạp hơn trước. Còn với TS Nguyễn Đức Tài trong bài viết “Cách tiếp cận về kinh tế truyền thông số trong xu thế chuyên đổi số” thì “sw phát triển nhanh chóng của internet và các loại hình truyền thông đã tạo ra sức ép lớn, buộc các cơ quan báo chí, truyền thông phải tìm ra phương hướng phát triển thích hợp, nếu như muốn sản phẩm thông tin được công chúng tiếp nhận.
Chính kỹ thuật, công nghệ số và internet 4G rồi tiễn tới 5G là yếu tố có vai trò quyết định tính chat môi truong truyền thông số với đặc tính nồi trội là khả năng siêu kết nói”. [trang 122, 125] Từ môi trường truyền thông số đưa đến nhiều khái niệm trong lĩnh vực báo chí, cụ thé là truyền hình như sau: - Kỹ thuật — công nghệ truyén thông số Nói đến môi trường truyền thông số phải kể tới truyền hình kỹ thuật số. Đó là hệ thống viễn thông phát và nhận tín hiệu hình ảnh, âm thanh bằng các tín hiệu kỹ thuật số, khác với vác tín hiệu tương tự. Truyền hình kỹ thuật số sử dụng các dữ liệu điều biến, được nén bằng kỹ thuật số và giải mã bởi bộ giải mã thiết kế riêng cho đầu thu hay một bộ phận thiết bị tiêu chuẩn với một set- top box hay một PC có card tivi.
Ra mắt vào chuối thập niên 90, công nghệ truyền hình này đã hấp dẫn ngành kinh doanh truyền hình và ngành điện tử tiêu dùng bởi vì nó mang lại nhiêu tính năng vượt trội và nhiêu cơ hội kinh doanh 18 mới. Với ưu việt vượt trội, kỹ thuật và công nghệ số đã và đang tạo ra môi trường truyền thông số, tạo điều kiện cho truyền thông phát triển. - Hệ sinh thái truyền thông online Công nghệ số và mạng Internet đã khiến “môi trường sinh thái” của các phương tiện truyền thông truyền thống thay đổi mạnh mẽ và truyền thông hội tụ đang trở thành xu thế phát triển tất yếu của báo chí. Cùng với sự tiến bộ của công nghệ, hội tụ truyền thông chắc chan sẽ xuất hiện nhiều hình thức mới hơn.
Từ chỗ còn nghi ngại, thậm chí xem như đối thủ, vài năm gần đây, nhiều cơ quan báo chí tại Việt Nam đã nhận ra lợi ích của mạng xã hội. Đó chính là cánh tay nối dài, là đối tác quan trọng trong hoạt động truyền thông của mình. Một số cơ quan báo chí đã tối ưu hóa việc sản xuất, phân phối và kiểm soát bản quyền nội dung trên nhiều nền tảng.Với hội tụ truyền thông, chúng ta có thê có nhiều kênh truyền hình, nhưng vẫn có thêm các trang web, blog, hoặc các nhà báo tạo các trang nhật ký cá nhân trên mạng xã hội. Hiện nay, hầu như cơ quan báo chí nào ở Việt Nam cũng xây dựng fanpage trên Facebook.
Đặc biệt, nhiều đài truyền hình cũng đã tạo các kênh trên Youtube dé đưa thông tin đi xa hơn, rộng hơn và khai thác quảng cáo hiệu quả hơn. Trong hệ sinh thái truyền thông số, chính công chúng sẽ đi tìm, tự lan tỏa và giới thiệu miễn phí các sản phẩm báo chí. Công chúng vừa là đối tượng phục vụ, vừa là người tiêu ding nhưng đồng thời cũng là kênh phân phối, kênh quảng cáo và là đối tác của báo chí. Báo chí phải khăng định được vai trò của mình trong hệ sinh thái truyền thông mới, trong cuộc cách mạng truyền thông kỷ nguyên Internet vạn vật.
- Siêu thị truyén thông số Môi trường truyền thông số tạo nền tảng kỹ thuật và công nghệ, mở rộng kha năng kêt nôi và môi trường thông tin, giao tiép ở mọi cap độ. Trên cơ sở 19 đó, các mối quan hệ được kết nối và thâm nhập tạo thành nhiều tầng thông tin cho phép con người hình thành siêu khám phá trong siêu liên kết hay siêu kết nối. Đại chúng và phi đại chúng hóa trong môi trường truyền thông số hiện nay cũng giống như đi vào một siêu thị rất lớn, đi cả ngày mà không hết những gian hàng nhưng đồng thời cũng có thể vào các gian hàng nhỏ dé tìm kiếm được món hàng mình ưa thích. Chương trình truyén hình/sản phẩm báo chí truyền hình Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng”: “Chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác dé tổ chức theo một chủ dé cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng tương đối ổn định và được phat di theo định ky” [29, tr.
Theo TS Trần Bảo Khánh trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình”: “Chương trình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng. Trong cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình”, tác giả Dương Xuân Sơn định nghĩa: “Chương trình truyén hình là sự liên sự liên kết, sắp xếp hợp lý tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định, được mở dau bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan bdo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả ”. Sản phẩm báo chí truyền hình có nhiều dạng chương trình khác nhau. Nếu phân chia theo tiêu chí tính chất thời sự của thông tin, có: chương trình Thời sự, chương trình Chuyên đề.
Nếu phân chia theo lĩnh vực phản ánh, có: chương trình Kinh tế, Văn hóa, Quân đội, Giáo dục, Y tế, Thể thao. Nếu theo tiêu chí mục đích thông tin, chủ yếu có các chương trình tin tức thời sự, chương trình giải trí. 20 - Các đặc điểm cua sản phẩm truyền hình e Đặc điểm về nội dung kỹ thuật Trong các loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình là phương tiện ra đời muộn nhưng nó là sản phẩm của nên văn minh khoa học và công nghệ phát triển. Ở truyền hình có sự khái quát triết lý của báo in, tính chuẩn xác cụ thé băng hình anh, âm thanh của điện anh, phát thanh, tính hình tượng của hội họa và cảm xúc của tư duy âm nhạc.
Truyền hình là loai hình truyền thông có các yếu tố kỹ thuật hiện đại, là sự kết hợp giữa kỹ thuật — mỹ thuật — nghệ thuật — kinh tế và báo chí. e Đặc điểm về tư duy, sáng tao tác pham Mỗi loại hình truyền thông đại chúng đều có những đặc thù riêng. Để sáng tạo ra một sản phẩm truyền hình cần rất nhiều công phu vì đó là đứa con tình thần của cả một tập thê đạo diễn, biên kịch, biên tập viên và những người làm kỹ thuật. Sản phẩm đó thé hiện ý chí thống nhất của từng thành viên trong ekip, giữa biên tập và quay phim.
Kịch bản là xương sống cho một sản phẩm truyền hình, đồng thời tạo ra sự thong nhat giữa dao diễn và quay phim, sự ăn ý giữa hình ảnh và lời bình trong quá trình thực hiện. - Các sản phẩm báo chí truyền hình e Tin truyền hình Thé loại tin của báo chí đang được sử dụng nhiều trong các ấn phẩm truyền hình, gọi chung là bản tin thời sự. Trong truyền hình, thể loại tin được phát bằng lời và bằng hình ảnh, những người làm truyền hình gọi đó là bản tin. Tin ngắn là thé thông tin phổ biến nhất, là yếu tố cơ bản trong các bản tin thời sự.
e Phỏng van truyền hình Phỏng vấn truyền hình, là một hình thức truyền tin dưới dạng cuộc trao đổi giữa nhà báo và một người đại diện cung cấp thông tin. Thể loại này mang 21 đến cho khán giả những thông tin trực tiếp, khách quan. Công chúng tiếp nhận tin tức như một người làm chứng cho cuộc trò chuyện giữa phóng viên va người được phỏng vấn. e Phóng sự truyền hình Phóng sự truyền hình là một thể loại báo chí truyền hình thuộc nhóm chính luận nghệ thuật, phản ánh các sự kiện, con người, tình huống, hoàn cảnh điển hình, đồng thời phản ánh hiện thực đó qua cái tôi trần thuật vừa tỉnh táo lý trí, vừa dạt dao cảm xúc.
e Bình luận truyền hình Bình luận truyền hình là một thé loại báo chí truyền hình nhằm lý giải, phân tích, đánh giá, bàn luận về các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan, dé hướng dẫn là định hướng dư luận, được truyền đạt bằng phương tiện truyền thông truyền hình.