CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nguyên liệu mỡ cá Hiện nay, dầu nhờn là chất bôi trơn chủ yếu trong các ngành công nghiệp và dân dụng. Mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 120.000 tấn dầu bôi trơn mà toàn bộ lượng dầu này phải nhập từ nước ngoài dưới dạng dầu thành phẩm hoặc dầu gốc cùng với các loại phụ gia [4]. Trong khi đó hầu như toàn bộ dầu đã qua sử dụng lại dùng không đúng mục đích hoặc thải trực tiếp vào môi trường gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.
Đồng Bằng Sông Cửu Long mỗi năm tiêu thụ khoảng 400.000 tấn cá tra, cá basa với lượng mỡ khoảng 60. Tuy nhiên nếu lượng mỡ này không tận dụng mà thải ra môi trường thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường theo chiều hướng xấu. Trước các thực trạng trên cần phải có những nghiên cứu trong và ngoài nước về dầu nhờn sinh học như nghiên cứu của nhà hoá học Girma Biresaw làm việc tại cơ quan nghiên cứu nông nghiệp (ARS) thuộc bộ nông nghiệp Mỹ đã nghiên cứu sản xuất dầu nhờn sinh học từ dầu thực vật, trong nước một nhóm nhà khoa học của đại học quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu về vấn đề sử dụng dầu thực vật để sản xuất chất bôi trơn tại Việt Nam [5] [6]. Các loại dầu được khảo sát là dầu dừa, dầu lạc, dầu thầu dầu, dầu hạt cao su, dầu sở, và một số ít các công trình cho mỡ cá.
Kết quả khảo sát doanh nghiệp và số liệu thống kê gần đây nhất đăng tải trên các trang web của các hiệp hội sản xuất chế biến thuỷ sản, và từ các doanh nghiệp do nhóm nghiên cứu tiếp xúc (Agifish, An Phước Hưng, Phúc Nguyên Phát, Tân Tiến Phát, Giải pháp Xanh) cho thấy năng suất sản xuất mỡ cá tại Việt Nam, đặc biệt là tại Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long là khá lớn, với khoảng hơn 50 doanh nghiệp chế biến cá tra và cá da trơn. Trung bình mỗi tháng, mỗi doanh nghiệp có thể sản xuất hơn 500 tấn mỡ cá. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các quá trình sản xuất. Mỡ cá có khá nhiểu chủng loại khác nhau.
Loại mỡ cá có các tính chất hoá lý phù hợp với sản xuất dầu gốc sinh có giá thành hiện tại vào khoảng 17 – 19. Các tính chất hóa lý cần quan tâm khi lựa chọn nguyên liệu mỡ cá là độ nhớt, chỉ số axit, thành phần axit béo… Quan trọng nhất là chỉ số acid của mỡ cá phải có giá trị nhỏ hơn 5mgKOH/g mỡ cá, theo kết quả các báo cáo khoa học trong và ngoài nước. Mỡ cá được chọn lựa sử dụng, theo 4 HVTH: Nguyễn Minh Tiến Khóa: 2014 Luận văn thạc sỹ GVHD: PGS.Phan Minh Tân kết quả phân tích của chúng tôi, có chỉ số acid là 1,5mgKOH/g mỡ cá (số liệu của doanh nghiệp cung cấp là 3 mgKOH/g mỡ cá) nằm trong khoảng giá trị đề nghị. Tổng quan về dầu gốc 1.
Nguồn gốc Dầu gốc là dầu thu được sau quá trình xử lý và tổng hợp bằng các phương pháp vật lý hoặc hóa học. Dầu gốc có 2 loại chính: Dầu khoáng và dầu tổng hợp. Ngày nay, người ta thường sử dụng dầu khoáng hay dầu tổng hợp là chủ yếu. Trong một số trường hợp, dầu thực vật được sử dụng để phối trộn với dầu khoáng hoặc dầu tổng hợp để đạt được một số chức năng nhất định.
Dầu gốc khoáng Dầu gốc khoáng được sản xuất từ dầu thô trong quá trình lọc dầu. Bản chất dầu thô và các quá trình chế biến quyết định tính chất của dầu gốc. Dầu gốc khoáng được sử dụng phổ biến cho các loại dầu bôi trơn hiện có [7]. Thành phần dầu gốc khoáng: Gồm các parafin, aromatic, naphten và các tạp chất (hợp chất lưu huỳnh, hợp chất nitơ).
Phân loại theo thành phần: Căn cứ vào thành phần của các loại Hydrocacbon nào chiếm ưu thế trong dầu gốc mà có thể phân dầu gốc thành các loại như: dầu khoáng farafin, dầu gốc khoáng naphten, dầu gốc khoáng aromatic. Phân loại theo độ nhớt: Phần chưng cất được sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất dầu gốc thường nằm trong khoảng 11 cSt đến 150 cSt ở 40 oC. Độ nhớt của các phân đoạn cặn ở khoảng 140 cSt đến 1200 cSt. Dầu gốc khoáng có cách gọi tên tạo sự khác biệt giữa các phân đoạn đầu chưng cất và dầu cặn theo độ nhớt: - Dầu SN (Solvent Neutral): từ các phân đoạn chưng cất dầu thô, phân loại theo độ nhớt SUS (Saybolt Universal Second) ở 100 oF: 100SN, 150SN, 200SN, 300SN, 500SN.
- Dầu BS (Bright Stock): từ phân đoạn cặn nặng, phân loại theo độ nhớt SUS ở 210 o F: 150BS, 200BS… 5 HVTH: Nguyễn Minh Tiến Khóa: 2014 Luận văn thạc sỹ GVHD: PGS.Phan Minh Tân Phân loại theo chỉ số độ nhớt (VI): - Dầu có chỉ số độ nhớt cao (HVI): VI > 85, được sản xuất từ dầu gốc parafin qua công đoạn tách chiết bằng dung môi và tách sáp. - Dầu có chỉ số độ nhớt trung bình (MVI): 30 < VI < 85, được sản suất từ cả hai phần cất naphten và parafin. - Dầu có chỉ số độ nhớt thấp (LVI): VI < 30, được sản suất từ phân đoạn dầu gốc naphten và được dùng khi chỉ số độ nhớt và độ oxy hóa không cần thiết chú trọng lắm. Phân loại theo nhóm: Ngoài các hệ thống phân loại đã biết, người ta cũng phân loại dầu gốc theo nhóm dựa vào chỉ tiêu về hàm lượng lưu huỳnh (S) và chỉ số độ nhớt theo tiêu chuẩn API được trình bày ở bảng 1.
Phân loại dầu gốc theo nhóm Dầu gốc Hydrocarbon no (%) Hàm lượng lưu huỳnh (%) Chỉ số độ nhớt Nhóm I <90 >0,03 80 - 120 Nhóm II ≥ 90 ≤ 0,03 80 - 120 Nhóm III ≥ 90 ≤ 0,03 >120 1. Dầu gốc tổng hợp Dầu gốc tổng hợp có nguồn gốc từ thực vật được tổng hợp qua các quá trình tổng hợp hóa học. Thành phần của dầu gốc tổng hợp chủ yếu bao gồm các phần sau [7]: - Hydrocarbon tổng hợp như: Oligome olefin, các polyme, copolyme, các ankyl của hydrocarbon thơm, polybuten, các hydrocarbon no mạch vòng,… - Este hữu cơ: chủ yếu là các este diaxit, ester polyol của axit béo,… - Polyglycols: Chủ yếu là các polymer của etylen, propylene oxit có trọng lượng phân tử cao hoặc cả hai. - Este photphat: chủ yếu là các ester ankyl/aryl photphat,… 6 HVTH: Nguyễn Minh Tiến Khóa: 2014 Luận văn thạc sỹ GVHD: PGS.Phan Minh Tân 1.
Tổng quan về dầu nhờn sinh học 1. Nguồn gốc Dầu nhờn sinh học là loại dầu có nguồn gốc từ dầu thực vật hoặc mỡ động vật. Dầu nhờn sinh học có thể được sản xuất trực tiếp từ các loại dầu thực vật, mỡ động vật (sau đây gọi tắt là dầu/mỡ) hoặc qua các giai đoạn phản ứng hóa học để biến đổi thành phần và cấu trúc hóa học, chuyển hóa dầu/mỡ thành những hợp chất khác nhằm cải thiện tính chất đáp ứng những yêu cầu chức năng của dầu gốc. Dầu nhờn sinh học còn là thuật ngữ dùng để chỉ những chất bôi trơn có hai đặc điểm là dễ phân hủy sinh học và thân thiện cho sinh vật và môi trường sống.
Dầu gốc sinh học tiêu biểu có thể được tạo ra từ các loại dầu thực vật như dầu hạt cải, dầu đậu nành, dầu dừa và mỡ động vật [8]. Thành phần dầu nhờn sinh học Thành phần chủ yếu là triacylglycerol (98 %) và chứa các acid béo được gắn vào các phân tử của glycerol, ngoài ra chúng cũng chứa mono, di-glycerols (0.5 %), acid tự do (0.3 %)… Acid béo chủ yếu là mạch carbon dài không phân nhánh (C18 - C24), mạch cacbon ngắn nhất của acid béo là C6 và chúng có thể tan trong nước bởi vì có sự hiện diện của nhóm phân cực - COOH. Các acid béo có thể no hay không no. Ưu điểm và nhược điểm của dầu nhờn sinh học 1.
Ưu điểm Dầu nhờn sinh học có nhiều ưu điểm so với dầu khoáng. Vì đi từ nguyên liệu là dầu thực vật hay mỡ động vật nên có khả năng tái chế. Dầu nhờn sinh học có khả năng phân hủy sinh học nên ít độc hơn cho sinh vật cũng như ít gây ô nhiễm môi tường như dầu khoáng. - Hệ số ma sát của dầu nhờn sinh học thấp hơn dầu khoáng.
- Khả năng bay hơi của dầu nhờn sinh học thấp hơn dầu khoáng đến 20 %. - Chỉ số độ nhớt của dầu nhờn sinh học cao hơn dầu nhờn khoáng. - Điểm chớp chảy của dầu nhờn sinh học cao hơn dầu nhờn khoáng. - Có khoảng làm việc rộng hơn so với dầu gốc khoáng, từ -55 oC - 320 oC.
7 HVTH: Nguyễn Minh Tiến Khóa: 2014 Luận văn thạc sỹ GVHD: PGS.Phan Minh Tân 1. Nhược điểm - Độ bền oxy hóa kém do các liên kết đôi trong mạch cacbon của các axit béo. - Trải qua nhiều giai đoạn tổng hợp phức tạp nên giá thành của dầu nhờn sinh học cao hơn so với dầu nhờn gốc khoáng. - Không sản xuất được lượng lớn dù nguồn nguyên liệu dồi dào.
Các phương pháp tổng hợp dầu nhờn sinh học 1. Phương pháp xử lý vật lý Dầu thực vật hoặc mỡ động vật với thành phần chính là triglyceride được loại nước, loại bỏ các tạp chất, tẩy màu, mùi sau đó pha chế thêm với các loại phụ gia. Sản phẩm được sử dụng trực tiếp như là dầu nhờn thành phẩm mà không qua các giai đoạn phản ứng chuyển đổi. Ưu điểm: Phương pháp này là đơn giản, dễ làm và có giá trị đầu tư thấp.
Nhược điểm: Độ lựa chọn của dầu thực vật đầu vào rất cao vì không phải loại dầu nào cũng có thể được sử dụng một cách trực tiếp. Đồng thời, sản phẩm dầu nhờn sinh học này thường có độ bền oxy hóa thấp nên ít khi được sử dụng làm dầu nhờn động cơ mà chỉ sử dụng cho một số chủng loại dầu nhờn công nghiệp như: dầu khoan, dầu cắt, dầu bôi trơn xích tải, mỡ bôi trơn,… Ở phương pháp này, chúng ta không tác động vào cấu trúc mạch nên tính oxi hóa của dầu, mỡ thấp do chứa nhiều nối đôi. Các loại dầu/mỡ cũng có điểm rót chảy cao do có chứa nhiều sáp este. Điều này sẽ làm cho dầu nhờn hoạt động kém hiệu quả ở nhiệt độ thấp.
Quá trình xử lý vật lý mỡ cá Để loại bỏ sáp este, thông thường dầu/mỡ sẽ được xử lý qua các giai đoạn sau: 1. Tách các tạp chất cơ học: Quá trình lọc dựa trên khả năng của các vật liệu xốp chỉ cho đi qua những phần tử có kích thước nhất định. Đối với dầu, để tách các tạp chất cơ học thường người ta 8 HVTH: Nguyễn Minh Tiến Khóa: 2014 Luận văn thạc sỹ GVHD: PGS.