Đặt vấn đề Cây trà (Camellia sinensis) là loài thực vật đã được biết đến từ hon 2000 năm trước Công nguyên, xuất xứ từ Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, tại các khu vực khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây trà có một vi trí đặc biệt trong nên kinh tế va trong đời sống của người dân Việt Nam. Ngoài giá trị dinh dưỡng, cây trà là cây công nghiệp lâu nam, mau cho sản pham va đem lại hiệu quả kinh tẾ cao. Trà xanh là một trong những sản phẩm thực phẩm bổ sung được sử dụng rộng rãi và phô biến nhất trên thế giới.
Các số liệu được báo cáo cho thay trà có chứa gần 4000 các hợp chất có hoạt tính sinh học mà các hợp chất trong đó khoảng một phan ba thuộc nhóm polyphenol [1], [2]. Những hợp chất khác như: alkaloids (caffeine, theophylline và theobromine), các axit amin, carbohydrate, protein, chất diệp lục, các hop chat dé bay hoi, fluor, khoáng chất va các nguyên tố vi lượng, và các hợp chất không xác định khác. Hợp chất chiết xuất từ trà xanh chứa nhiều polyphenol, có hoạt tính chống oxy hóa, trong đó chủ yếu là các catechin; các thành phân epigallocatechin-3-gallate và epicatechin-3-gallate thì có hoạt tính mạnh nhất. Các lợi ích của trà xanh đã được báo cáo đối với các bệnh béo phì, tiêu đường type II, giảm nguy cơ của các bệnh mạch vành, tim mạch, có tác dụng tốt đối với những bệnh nhân ung thư, bệnh gan,.
Với những lợi ích từ trà xanh mang lại, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sản xuất bột trà xanh giàu polyphenol” nhằm tạo ra sản phẩm tiện dụng, có giá trị cao. Đây là hướng nghiên cứu nhiều triển vọng góp phần đa dạng hóa các sản phẩm từ trà, kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm. Mục tiêu nghiên cứu Sử dụng enzyme để nâng cao hiệu suất trích ly polyphenol từ lá trà. Ứng dụng sản xuất bột trà xanh ở quy mô phòng thí nghiệm Phân tích khả năng chống oxy hóa trong sản phẩm Nghiên cứu độ bên màu của chlorophyll trong sản phẩm trà xanh Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện với quy mô phòng thí nghiệm, đối tượng nghiên cứu là lá trà xanh.
Enzyme cellulase, pectinase, Flavourzyme sử dụng cho nghiên cứu từ hãng Novozymes, Đan Mạch, được mua tại công ty BrennTag Việt Nam (TP. HCM) Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu này tập trung các nội dung sau: Tổng quan tài liệu về trà xanh, enzyme dùng trong quá trình thủy phân lá trà. Phân tích một số thành phần cơ bản của lá trà. Khảo sát hiệu quả của việc kết hợp cellulase và pectinase với các tỷ lệ khác nhau trong quá trình thủy phân lá trà xanh; ty lệ pha loãng thích hợp cho quá trình thủy phân; ảnh hưởng của các yếu tô hàm lượng enzyme, thời gian, nhiệt độ, pH đến quá trình thủy phân va tối ưu hóa các yếu tố này.
Khảo sát hiệu quả của quá trình thủy phân hỗn hợp sau khi ủ với enzyme cellulase và pectinase bằng enzyme protease; ảnh hưởng của các yếu tố ham lượng enzyme, thời gian đến quá trình thủy phân và tối ưu hóa các yếu tố này. Đánh giá chất lượng bột trà xanh sấy phun từ dịch thủy phân tối ưu: thành phân dinh dưỡng. Đánh giá sự thay đôi hoạt tính chống oxy hóa từ nguyên liệu lá trà xanh, dịch thủy phân đến bột trà sấy phun. Phân tích một số chỉ tiêu chất lượng sản phẩm 10 CHUONG 1: TONG QUAN 1.
Tổng quan về trà xanh LI. Phan loại khoa hoc {1| Trà có tên khoa hoc là Camellia sinensis, phan loại khoa hoc của trà xanh như sau: Giới: Plantae Bộ: Ericales Họ: Theaceae Chi: Camellia Loai: Camellia sinensis Ngoài tên khoa học, trà xanh còn có nhiêu tên gọi khác nhau ở các nước khác Tiếng Anh: Tea Plant Tiếng Mỹ: Tea Tiếng Ấn Độ: Chha Tiếng Nga: Chai Tiếng Y: Te Tiếng Trung Quốc: Cha Hình 1. Đặc điểm cây trà xanh II 1. Phân bố và đặc điểm Trà xanh có nguồn gốc từ Trung Quốc đại lục, Nam và Đông Nam A.
Trà xanh là cây thân bụi, rễ chính, hoa có mau vàng — trăng, đường kính hoa 2 — 4em, một hoa có 7 — 8 cánh. Hạt trà xanh được ép dé sản xuất dầu trà dùng trong dược phẩm và mỹ phẩm. Lá trà xanh dài 4-— 15cm, chiều ngang 2 — 5em. Là trà non mảu xanh nhạt, có lông tơ trắng dưới bề mặt lá, lá giả có màu xanh đậm hơn, và tùy vào độ tuổi của lá trà mà cho ra các sản phẩm trà có chất lượng khác nhau.
Thông thường búp tôm 2 — 3 lá được sử dụng để sản xuất các loại trà lá khô. [1] Ngày nay, ở hau hết các tinh của nước ta đều có đều kiện thuận lợi đều trồng trà, song ba vùng trồng trà lớn nhất. - Vung chè thượng du (Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Yên Bái) chiếm khoảng 25% sản lượng chè miền Bắc. - Vung chè trung du (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bac Can, Thái Nguyên).
Đây là vùng chè chủ yếu chiếm đến 75% sản lượng chè miền Bắc với nhiều nhà máy sản xuất lớn. - Vùng chè Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Đắc Lắc) chủ yếu trồng giống chè An Độ và chè shan, chè O Long. Thành phân của lá trà Bang 1. Thành phan hóa học của lá trà khô [2] Thành phần Giá trị % Protein 15 Acid amin 4 Carbohydrate 7 Xo tong 26 Lipid 7 Sac tô 2 Khoang 5 Hợp chat phenolic 0,3 S6 liéu tinh trén ham luong chát khô 12 Thanh phần hóa học của lá trà: Protein (chiếm 15 — 20% chất khô), acid amin (1 — 4% chất khô) như Theanine, 5-N-ethylglutamine, acid glutamic, tryptophan, glycine, serine, acid aspartic, tyrosine, valine, leucine,., Khoang chiém 5% chat khô: canxi, magie, chrom, mangan, sat, đồng, kẽm, molybden, selen,., một lượng nhỏ chất béo, sac tố (chlorophyll, carotenoids).
Thành phân acid amin trong lá trà [4] Thành phan ug/g Aspartic acid 560 + 21,4 Glutamic acid 619 + 27,4 ASN 206 + 9,73 Serine 126 + 36,2 Histidine 693 + 79,8 Arginine 414+ 40,4 Glycine 30,7 + 5,43 Threonine 65,9 + 8,32 Alanine ND Theanine 4025 + 59,1 Tyrosine 63,5 + 36,7 Methionine 25,5 + 1,78 Tryptophan 61,9 + 3,33 Phenylalanine 30,5 + 24,0 Isoleucine 35,8 + 23,0 Leucine 27,5 + 9,70 Lysine 44,0 + 12,4 Tong cộng 6985 ND: không phát hiện Các hợp chất polyphenol trong trà bao gồm các hợp chất flavanols, flavandiols, flavonoids va phenolic acid. Trong đó, flavanols chiếm ty lệ cao nhất, với đại diện là catechin [Š]. Có 4 dạng catechin chính trong lá trà: 13 (—)-epigallocatechin gallate (EGCG), (—)-epigallocatechin (EGC), (—)-epicatechin gallate (ECG) và (—)-epicatechin (EC) [6]. Catechin không mau, tan trong nước, là hop chat tao nén vi dang va chat cho tra xanh.2 Công thức cau tạo của catechin Catechin được đặc trưng bởi các nhóm hydroxyl khác nhau trên vòng A va vòng B.
Epicatechin (EC) có một nhóm ortho-dihydroxyl trên vòng B, ở vị trí carbon 3’ và 4’, và một nhóm hydroxy] trên vòng C, tại vi tri carbon 3. [7] Epigallocatechin (EGC) khác với epicatechin ở vi tri các nhóm hydroxyl, epigallocatechin có 3 nhóm hydroxyl trên vòng B tại các vi tri carbon 3’, 4’, 5’.[7] Epicatechin gallate (ECG) khác epicatechin la nhóm gallate trong phan tử liên kết với carbon 3 ở vòng C. EGCG là catechin được tìm thấy nhiều nhất trong lá trà xanh, trà Oolong và trà đen [2]. Hàm lượng EGCG có trong trà xanh vào khoảng 127 — 550 mg/L [9].3 Thành phan của catechin và các flavonols trong dung dịch trà xanh* [6] ` Dịch chiết Dịch chiết Dịch chiết Tong cộng Thành phần 1 (mg/l) 2 (mg/l) 3 (mg/l) (mg/l) Catechin (+ )-GC 30,0 18,7 3,8 52,5 (— )-EGC 288 131 37,2 396,2 (+)-C 10,4 5,9 0,9 17,2 (— )-EGCG 306 233 2,3 531,3 (— )-EC 52,8 28,1 6,3 87,2 (— )-GCG 10,0 9,6 NDP 19,6 (—)-ECG 76,8 52,0 0,5 129,3 (—)-CG 1,4 1,4 ND 2,8 Elavonols Myricetin 6.8 Kaempferol 9,0 6,5 3,5 19 (a) Chuan bị dung dịch thi nghiệm: 1g lá trà khô được ngâm trong 100ml nước cất đun sôi trong 5 phút, thu 70ml dịch chiết và làm nguội đến nhiệt độ phòng dưới vòi nước chảy.
Tiếp tục cho thêm 70ml nước cất đun sôi vào bã trà, trích ly trong 5 phút, thu 70ml dịch chiết thứ 2, làm nguội dưới vòi nước chảy. Dịch chiết thứ 3 thực hiện tương tự dịch thứ 2. (b) ND: không phát hiện thấy Khả năng chống oxy hóa của các nhóm catechin trong trà xanh là sự kết hợp của nhóm hydroxyl và vòng nhân thơm trong cau trúc phân tử, từ đó, liên kết va trung hòa các gốc lipid tự do của nhóm hydroxyl. Các ion kim loại chuyển tiếp thường có khả năng bắt đầu các chuỗi oxy hóa bang cách phá vỡ liên kết O-O của các lipid hyperoxyde (LOOH), tạo ra các gốc tự do alkoxyl lipid, nhờ tính tạo phức với kim loại của catechin trà xanh góp phan nâng cao hoạt tính chống oxy hóa của chúng [32][33][34].
Các phân tử catechin ức chế quá trình peroxy hóa chất béo 15 bang cách liên kết với các gốc alkoxyl lipid tự do. Khả năng chống oxy hóa của catechin phụ thuộc vào cầu trúc phân tử, số lượng và vi tri các gốc hydroxyl trong phân tử [10]. Các phân tử catechins có o-dihydroxyl hoặc trihydroxyl ở vòng B sẽ có khả năng chống oxy hóa cao. Các catechin có liên kết ester gallate ở vị trí carbon 3 (ECG, EGCG) có hoạt tính chống oxy hóa cao nhat[11].
Sự có mặt của 3,4,5 — trihydroxyl ở vòng B đã đươc chứng minh là quan trọng trong tác dụng chống oxy hóa và các gốc tự do [30]. Catechin trà xanh có hoạt tính chống oxy hóa mạnh hơn vitamin C và E [31], và thứ tự hiệu quả chống oxy hóa ECG > EGCG > EGC > EC [14] Ngoài tac dụng chống oxy hóa, catechin trong trà xanh còn tác động đến các tế bảo và phân tử trong tín hiệu dẫn truyền [14]. Đặc tính ngăn ngừa ung thư của catechin trà xanh là do khả năng ức chế sự tăng sinh của tế bao khối u, sự hình thành mach, và sự gia tăng các yếu tố tăng trưởng [35][36]. Điều tri bang EGCG giúp ức chế pha tăng trưởng G1, kìm hãm kinase phụ thuộc vào cylin (CDKs) và cảm ứng chất ức chế CDK p21 va p27 trong tế bao ung thư vú và tuyến tiền liệt [37].
EGCG còn ức chế các nhân tố trong quá trình sao mã như NF - «B va AP — 1 [38]. Sự ức chế NF — kB va AP — 1 là hiện tượng chính giải thích hiệu quả hoạt tính chống oxy của catechin trà xanh va tác động của chúng lên từng phân tử cụ thé. Một số nghiên cứu về trà xanh Một số nghiên cứu trên động vật cho thấy catechins trong trà xanh giúp chống lại các căn bệnh liên quan đến lão hóa [12].