CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về protein từ gạo Giới thiệu Lúa gạo (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực chính trên thế giới, với sản lượng khoảng khoảng 510 triệu tấn (gạo xay xát) trong năm 2021- 2022 (Hình 1-1) và được trồng tại hơn 100 các quốc gia, trên mọi lục địa ngoại trừ Nam Cực. Đây là thực phẩm chủ yếu của hơn một nửa dân số thế giới, đặc biệt gạo là nguồn cung cấp protein đáng kể cho hàng triệu người ở khu vực đói nghèo của châu Á [1]. Hình 1-1 Sản lượng ngũ cốc trên toàn thế giới năm 2021 - 2022 [2] Theo tính toán của tổ chức Y tế thế giới, nhu cầu tối thiểu về protein của mỗi người là 0,5 – 1 g/kg cân nặng/ngày tùy theo nhu cầu dinh dưỡng của từng đối tượng.
Một số đối tượng đặc biệt cần tỷ lệ protein cao hơn như trẻ em, người lớn tuổi, người sau phẫu thuật, phụ nữ mang thai hay vận động viên (1,5 – 2 g/kg cân nặng/ngày). Việc sử dụng kết hợp hài hòa giữa protein động vật và protein thực vật giúp cung cấp đầy đủ các thành phần axit amin thiết yếu cho cơ thể. Hiện nay, việc sử dụng các nguồn protein thực vật thay thế một phần protein động vật trong lĩnh vực thực phẩm đang là xu thế chung trên toàn thế giới. Protein từ gạo là nguồn protein quan trọng và có nhiều ưu điểm vượt trội khi so sánh với các protein thực vật khác như giá trị sinh học và độ tiêu hóa cao 1 nhất trong các protein ngũ cốc phổ biến (như lúa mì, ngô, lúa mạch), phổ axit amin cân bằng với hàm lượng lysine và methionine cao nhất trong các protein ngũ cốc, được coi là ít gây dị ứng, một số nghiên cứu còn cho thấy rằng các peptit thủy phân từ gạo có khả năng chống oxy hóa, chống tăng huyết áp, chống ung thư và chống béo phì [3].
Vì vậy, gạo là một nguồn protein tiềm năng để phát triển các thành phần làm giàu protein phục vụ cho sản xuất các sản phẩm dinh dưỡng. Ứng dụng của protein gạo Gạo là thực phẩm ít gây dị ứng, là một trong những thực phẩm rắn đầu tiên được đưa vào chế độ ăn của trẻ sơ sinh. Do đó, sữa công thức chứa protein từ gạo là một giải pháp thay thế phù hợp cho trẻ bị dị ứng với sữa bò. Trẻ sơ sinh được chẩn đoán bị dị ứng sữa bò (CMA) thường được cho ăn các loại sữa công thức sữa bò đã được thủy phân, sữa công thức dựa trên protein đậu nành hoặc công thức dựa trên axit amin.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng công thức dựa trên protein gạo thủy phân đủ dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh mắc CMA và do đó nó là lựa chọn thay thế phù hợp cho các công thức nói trên [4]. Protein từ gạo được sử dụng làm nguyên liệu thay thế nguyên liệu casein và sữa bột nguyên kem trong sản xuất thực phẩm. Đặc biệt là các ngành sản xuất bột kem không sữa và thức uống ngũ cốc, sản xuất bánh nướng và kẹo. Là một nguyên liệu không gây dị ứng và không chứa GMO, protein gạo là sự lựa chọn tối ưu cho các nhà sản xuất thực phẩm.
Bột protein gạo được sử dụng phổ biến cho người tập thể hình, khi sử dụng protein này giúp cho việc phát triển các khối cơ nhanh hơn. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các chế phẩm protein từ gạo có thể được sử dụng làm thành phần giá trị gia tăng trong sản xuất bánh mì, bánh quy và màng ăn được với các đặc tính dinh dưỡng và chức năng được cải thiện [5]. Mặt khác bổ sung protein trong sản xuất bánh kẹo còn làm tăng chất lượng sản phẩm. Protein được bổ sung như phụ gia dinh dưỡng để duy trì chất lượng dinh dưỡng của thực phẩm, cải thiện hoặc ngăn ngừa sự thiếu hụt dinh dưỡng của các nhóm người có nguy cơ bị thiếu hụt một số loại chất dinh dưỡng nhất định (ví dụ, phụ nữ người cao tuổi, người ăn chay, mang thai, vv); đồng thời để tăng giá trị dinh dưỡng của một sản phẩm thương mại; và để bổ trợ cho những chức năng công nghệ nhất định trong chế biến thực phẩm.
2 Sự phân bố và thành phần của protein trong gạo Trong gạo hàm lượng protein không cao, tùy thuộc giống lúa, điều kiện canh tác mà hàm lượng protein thay đổi trong một khoảng khá rộng, thông thường trong khoảng 6 - 10% khối lượng. Hình 1-2 Phân bố protein gạo trong lớp subaleurone [6] Protein gạo chủ yếu được quan sát dưới dạng các bào quan dự trữ (protein bodies - PBs). Hai loại PB khác biệt về hình thái đã được xác định trong nội nhũ lúa, đó là loại I (PB - I) và loại II (PB - II). PB - I có cấu trúc dạng phiến, hình cầu và giàu prolamin, trong khi PB - II có cấu trúc tinh thể, có hình dạng không đều và chứa chủ yếu là glutelin.
Protein dự trữ nội nhũ bao gồm 60–65% PB - II, 20–25% PB - I và 10–15% albumin và globulin trong tế bào chất [7]. Protein gạo được phân loại dựa trên độ hòa tan bao gồm bốn loại chính là: albumin (tan trong nước), globulin (tan trong muối), glutelin (tan trong kiềm/axit), và prolamin (tan trong cồn) [8], trong đó glutelin hay còn gọi là oryzenin chiếm đa số. Các phân đoạn xay xát gạo khác nhau về thành phần protein (Bảng 1-1). Dữ liệu được báo cáo trong các tài liệu liên quan đến % các thành phần protein trong gạo là tương đối khác nhau, tùy thuộc vào giống lúa và quy trình tách chiết.
Albumin, globulin, glutelin và prolamin đã được báo cáo lần lượt chiếm 5– 10, 7–17, 75–81 và 3–6% tổng lượng protein trong gạo lứt, 4–6, 6–13, 79–83 và 2–7% tương ứng trong tổng lượng protein gạo trắng, và 24–43, 13–36, 22–45 và 1–5% tương ứng trong tổng lượng protein cám gạo. Glutelin là phần protein chính trong gạo lứt và gạo trắng, trong khi prolamin (thành phần chính trong hầu hết các loại ngũ cốc khác) lại chiếm rất ít. 3 Bảng 1-1 Sự phân bố (%) của protein gạo giữa các phân đoạn xay xát gạo [9] Gạo lứt Gạo trắng Cám Albumin 5–10 4–6 24–43 Globulin 7–17 6–13 13–36 Glutelin 75–81 79–83 22–45 Prolamin 3–6 2–7 1–5 Protein nội nhũ gạo và cám gạo có hàm lượng tổng số axit amin thiết yếu tương tự nhau (41,1 – 41,7 g/100 g protein) xấp xỉ chiết xuất chiết xuất protein đậu nành (41,2 g/100 g protein), nhưng những giá trị này thấp hơn đáng kể so với những giá trị quan sát được đối với casein và chiết xuất whey protein (50,6–55,2 g/100 g protein) (Bảng 1-2). Bảng 1-2 So sánh thành phần axit amin thiết yếu (EAA) (g/100 g protein) từ các nguồn khác nhau [10] Axit amin REP RBP SPI Casein WPI Histidine 2,46 4,48 2,58 2,97 1,97 Isoleucine 3,80 3,61 4.15 9,96 Methionine + Cysteine 3,88 2,70 2,55 2,94 5,36 Phenylalanin+Tyrosine 10.57 Tổng số EAA 41.1 41,7 41,2 50,6 55,2 *REP: protein nội nhũ gạo, RBP: protein cám gạo, SPI: chiết xuất protein đậu nành, WPI: chiết xuất whey protein 4 Phân tích tỷ lệ axit amin của các hợp phần protein gạo (Bảng 1-3) cho thấy prolamin có hàm lượng lysine thấp nhất, axit amin giới hạn đầu tiên trong số các protein ngũ cốc.
Hàm lượng lysine cao nhất được tìm thấy trong albumin, tiếp theo là glutelin và globulin. Cám gạo chứa nhiều albumin nên có hàm lượng lysine cao hơn so với gạo lứt và gạo trắng. Ngoài ra, do có hàm lượng prolamin thấp nên gạo có lượng lysine cao hơn các loại ngũ cốc khác. Liên quan đến các axit amin thiết yếu khác, hàm lượng histidine và threonine cao nhất được tìm thấy trong albumin; isoleucine, leucine, phenylalanin cao nhất trong prolamin.
Hơn nữa, các axit amin chứa lưu huỳnh như cysteine và methionine được tìm thấy nhiều nhất trong globulin, trong khi prolamin có hàm lượng thấp nhất. Dựa trên thành phần axit amin, albumin đã được ước tính có giá trị sinh học (biological value - BV) cao nhất và prolamin có chỉ số BV thấp nhất trong số các phần protein gạo [11]. Bảng 1-3 Thành phần axit amin (g/16,8 g nitơ) của các phần protein gạo [9] Axit amin Albumin Globulin Glutelin Prolamin Alanine 7,1–8,5 5,6–6,3 5,6–5,9 6,7–7,6 Arginine 7,9–10 7,2–14 9,0–11 6,1–6,9 Axit aspartic 10–11 7,1–14 10–11 8,3–8,7 Cysteine 1,9–2,3 3,3–4,0 1,2–1,8 0 - 0,8 Axit glutamic 13–18 17–19 19–21 23–33 Glycine 6,3–8,4 5,8–6,4 4,3–5,3 3,0–3,7 Histidine 2,9–3,4 1,7–2,7 2,6–2,7 1,3–2,1 Isoleucine 3,5–3,8 2,4–4,1 4,3–4,7 4,6–5,2 Leucine 6,6–8,0 6,6–6,8 7,3–9,3 13–15 Lysine 5,1–6,4 1,9–3,7 2,7–4,5 0,3–1,2 Methionine 1,9–2,1 3,0–5,4 2,0–3,1 0,5–0,9 Phenylalanin 3,7–4,6 3,3–4,8 5,4–6,0 5,8–6,7 Proline 4,5–7,1 3,8–7,5 4,9–6,2 5,0–6,7 5 Axit amin Albumin Globulin Glutelin Prolamin Serine 4,2–5,4 5,5–6,5 4,5–6,2 4,2–6,1 Threonine 4,2–5,2 2,5–2,7 2,8–5,1 2,5–2,8 Tryptophan 1,5–1,8 1,4–1,5 1,0–1,6 0,5–2,6 Tyrosine 4,4–5,1 5,5–6,3 5,3–5,5 9,2–9,9 Valine 5,9–7,8 5,4–6,5 6,3–6,9 6,5–7,1 Đặc tính chức năng của protein gạo 1. Độ hòa tan Độ hòa tan của protein, trong một số điều kiện nhất định, là biểu hiện nhiệt động học của trạng thái cân bằng giữa tương tác protein - protein và protein - dung môi, có liên quan trực tiếp đến bản chất hóa lý của bề mặt protein.
Các yếu tố như nhiệt độ, pH, nồng độ muối và hằng số điện môi của dung môi làm thay đổi độ hòa tan của protein, vì sự thay đổi trong các điều kiện này dẫn đến thay đổi cấu trúc cấu trúc protein, do đó ảnh hưởng đến chức năng của protein. Protein gạo thể hiện độ hòa tan tối thiểu trong phạm vi pH 4–5 và tăng lên khi độ kiềm hoặc axit tăng lên [12]. Độ hòa tan của protein gạo chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các đặc tính của glutelin, vì nó phần protein chiếm ưu thế trong nội nhũ và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số protein trong cám gạo (Bảng 1-1). Glutelin gạo không có khả năng hòa tan tốt trong nước chủ yếu là do nó được tạo bởi các polypeptide liên kết với nhau qua cầu nối disulfide thành các polyme phân tử lượng cao tiếp tục được liên kết với nhau bởi liên kết disulfide liên chuỗi.
Các điều kiện axit và kiềm thúc đẩy sự phân ly của glutelin và do đó làm tăng khả năng hòa tan của nó. Trong nghiên cứu của Cao và cộng sự, độ hòa tan của protein cám gạo cao hơn so với protein từ gạo lứt và gạo trắng trong phạm vi pH 4–7, trong khi protein gạo trắng có độ hòa tan cao hơn so với protein cám gạo và gạo lứt ở các giá trị pH dưới 4 và trên 7, đặc biệt là lớn hơn 80% ở pH 10 [12]. Một sản phẩm protein gạo cô đặc (Leuven-Wijgmaal, Bỉ) chứa chủ yếu glutelin, có khả năng hòa tan kém (25–55%) trong khoảng pH 2–10, và hoà tan ít nhất ở pH 5.