phần mở đầu, từ lâu trẻ em đã được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bỉ tổn thương nhất và được các nhà nước, các cộng đồng quan tâm bảo vệ. Từ thế kỷ XIV, ở Châu Âu đã xuất hiện những dự án công cộng dành cho trẻ em, hoặc ngay cả ở Việt Nam, Bộ Luật Hồng Đức cũng quy nhằm bảo vệ quyền của trẻ em, nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, thuật ngữ pháp lý “quyền trẻ em” mới chính thức được điển hóa trong pháp luật quốc tế, đã dấu mốc đánh dấu một bước ngoặt trong nhận thức và hành động bảo vệ quyền trẻ em trên thế giới, đây cũng là tiền đề để Liên Hợp Quốc đưa vấn đề quyền trẻ em phát triển lên một bước ngoặt mới thông qua Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959 và Công ước về quyền trẻ em (CRC) ngày 20-11-1989, được xem là văn kiện quốc tế và toàn diện nhất về quyền trẻ em. Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều văn bản đề cập đến công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em, như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sau này là Luật trẻ em, Luật giáo dục,. những cũng chỉ dừng lại ở việc nêu ra, liệt kê ra các nội dung về quyền và nghĩa vụ của trẻ em mà không đưa ra được định nghĩa “quyền trẻ em” cụ thể.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn. Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người 12 Luan van lớn, mà các em là những thành viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển. Bao gồm quyền được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt mà mọi người, mọi gia đình dành cho trẻ em và cả quyền được cha mẹ ruột yêu thương, cũng như những nhu cầu căn bản: được ăn uống, được giáo dục phổ quát do nhà nước trả tiền, được chăm sóc sức khoẻ và các điều luật hình sự thích hợp với độ tuổi và sự phát triển của trẻ em”. Tuy nhiên các văn bản kể trên cũng chỉ đưa ra được tất cả các quyền và lợi ích rất cụ thể, những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách an toàn, lành mạnh mà chưa hề có bất kì một văn bản nào định nghĩa chính xác, toàn vẹn và đầy đủ được khái niệm “Quyền trẻ em”.
Bởi lẽ, quyền trẻ em là một phạm trù rất rộng lớn, nó bao hàm rất nhiều yếu tố khác nhau và khái niệm khác nhau, liên quan đến mọi mặt để một đứa trẻ được phát triển toàn diện, và bảo vệ an toàn tuyệt đối, nên để định nghĩa chính xác trong từng câu chữ là một điều vô cùng khó khăn. Do đó, chỉ có thể tùy thuộc vào từng quốc gia và từng đối tượng để có thể giải thích về quyền trẻ em theo đúng mục đích, phạm vi mà họ quan tâm, họ hướng đến để bảo vệ. Theo đó, theo quan điểm của tác giả: Quyền trẻ em chính là quyền con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển và tính chất cuộc sống của trẻ em, đó là những đặc quyền tự nhiên của trẻ em được quy định trong pháp luật, đó là những quyền mà trẻ em được hưởng, được làm được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm cho trẻ em không những được hưởng các quyền mà còn trở thành chủ thể của các quyền đó. Nói cách khác, quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn.
Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người lớn, mà các em là những thành viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển. Bao gồm quyền được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt mà mọi người, mọi gia đình dành cho trẻ em và cả quyền được cha mẹ ruột yêu thương, cũng như những nhu cầu căn bản: được ăn uống, được giáo dục phổ cập do nhà nước trả tiền, được chăm sóc sức khoẻ và các điều luật hình sự thích hợp với độ tuổi và sự phát triển của trẻ em. Những cách giải thích về quyền trẻ em thay đổi từ cho phép trẻ em 13 Luan van khả năng tự quyết về hành động tới đảm bảo cho trẻ em tự do về thân thể, tinh thần và tình cảm. Phân loại Cũng như khái niệm, việc phân loại quyền trẻ em cũng tùy thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi tổ chức khác nhau, trên cơ sở các tiêu chí nhất định mà họ đưa ra.
Phân loại theo Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em Công ước về Quyền trẻ em là Luật quốc tế để bảo vệ trẻ em, bao gồm 54 điều khoản. Công ước đề ra các quyền cơ bản của con người mà trẻ em trên toàn thế giới đều được hưởng. Theo đó, quyền của trẻ em gồm hai mươi hai (22) quyền cụ thể như: 1. Quyền về không phân biệt đối xử đối với trẻ em.
Nguyên tắc cơ bản của Công ước là mọi trẻ em phải được hưởng quyền của mình dù là gái hay trai, giàu hay nghèo, khoẻ mạnh hay ốm đau, khuyết tật, đa số hay thiểu số, theo tôn giáo hay không tôn giáo… 2. Quyền được có họ tên và quốc tịch. Trẻ em có quyền được đăng ký lập tức khi sinh ra, và có quyền có họ tên và có quốc tịch ngay từ khi ra đời. Quyền được bảo vệ và chăm sóc.
Vì chưa đạt đến sự trưởng thành về mặt thể chất và trí tuệ, trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, trước cũng như sau khi ra đời. Các bậc cha mẹ là những người chịu trách nhiệm chính trong việc nuôi nấng và giáo dục con cái của mình, cung cấp cho các em cơm ăn áo mặc. Khi làm việc vắng nhà, chúng ta cần phải lo thu xếp sao cho trẻ em luôn được người lớn có trách nhiệm trông nom, hoặc đưa các em đến nhà trẻ, trường học để các em được an toàn và chăm sóc tốt. Quyền không bị cách ly khỏi cha mẹ.
Trong trường hợp trẻ sống riêng với cha hoặc mẹ của mình, các em có quyền gặp gỡ với người cha hay người mẹ mà các em không được sống chung. Nếu vì một lý do nào đó mà một trong hai người đang ở nơi khác, trẻ em có quyền được biết nơi ở và tình hình của cha, mẹ mình. Khi cha 14 Luan van mẹ không sống với con mình, họ cần phải chu cấp cho các em một khoản tiền trợ cấp đảm bảo cho các em cuộc sống đầy đủ. Quyền được chăm sóc sức khoẻ.
Các bậc cha mẹ cần phải chăm sóc sức khoẻ của con cái mình, giữ cho các em luôn sạch sẽ, được tiêm phòng và trong trường hợp các em bị ốm đau, được đưa tới các trung tâm y tế, nơi có điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho các em. Quyền được học hành. Trẻ em cần nhận được sự giáo dục cần thiết, được giúp đỡ để phát triển tốt về thể chất, trí tuệ và xã hội, trở thành người công dân có trách nhiệm và biết tôn trọng những quyền của người khác. Quyền trẻ em trong trường học.
Nghĩa vụ của thầy cô giáo là lên lớp và giảng dạy tốt, khi uốn nắn trẻ em không được làm tổn hại đến các em, không được xúc phạm trẻ em. Các bậc cha mẹ cần phối hợp với nhà trường trong việc giám sát để đảm bỏ điều này được thực hiện. Quyền được sống trong môi trường lành mạnh. Trẻ em có quyền được sống và hưởng một môi trường lành mạnh và tự nhiên.
Để có được điều này, người lớn phải có trách nhiệm hướng dẫn và giáo dục các em biết giữ gìn thiên nhiên, nguồn nước, bầu không khí, cây cối và các loài vật. Quyền được giải trí. Trẻ em có quyền được vui chơi, giải trí và tham gia vào bất kỳ một hoạt động nào cần thiết cho sự hình thành và phát triển nhân cách và thể chất của các em. Quyền được thông tin.
Trẻ em có quyền được đọc sách báo, xem các chương trình truyền hình và nghe các chương trình phát thanh phù hợp với lứa tuổi của các em. Các bậc cha mẹ cần biết con cái mình đọc gì và xem gì, để hướng dẫn các em tránh đọc và xem những điều làm cho các em sợ hãi, nhầm lẫn hoặc làm hại đến các em. Quyền được tổ chức hội họp. Trẻ em cũng có quyền được tự do kết giao và tập hợp nhau theo những nhóm bạn cùng chung sở thích, cũng như tổ chức những cuộc họp mang tính chất hoà bình.
Quyền được tự do bày tỏ ý kiến. Trong tất cả mọi quyết định có ảnh hưởng đến trẻ em được đưa ra trong gia đình, trường học, toà án, bệnh viện hay tại bất kỳ một cơ quan nào khác, người lớn cần lắng nghe ý kiến của trẻ em và làm những điều tốt nhất cho các em. Quyền được bảo vệ chống lại sự ngược đãi. Không ai được phép làm tổn hại đến trẻ em.
Nghĩa vụ của chúng ta là tôn trọng và bảo vệ các em. Không ai được ngược đãi trẻ em trai và gái về mặt thể chất, bằng ngôn ngữ hoặc tình cảm, kể cả cha, mẹ, thầy cô giáo hay những người chăm sóc trẻ. Ai xâm hại về thể chất và tinh thần, làm tổn thương hoặc gây thương tích cho một bé trai hay gái là người phạm tội. Quyền được bảo vệ chống lại sự lạm dụng tình dục.
Các bậc cha mẹ có nghĩa vụ bảo vệ con cái của mình tránh mọi nguy cơ bị xâm hại tình dục dưới mọi hình thức khác nhau (từ những lời nói bóng gió, những cái vuốt ve mơn trớn, tiếp xúc bằng tay đến những sự phô diễn xấu xa và hành vi cưỡng dâm). Không một ai, kể cả cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, anh em, họ hàng, thầy cô giáo, hàng xóm, hay những người xa lạ với gia đình, có thể lạm dụng và xâm hại trẻ em về mặt tình dục. Lạm dụng tình dục trẻ em là một tội ác. Nếu cha mẹ hay những người có trách nhiệm chăm sóc các em nhận thấy những điều đó mà không báo cho các nhà chức trách thì bị coi là kẻ đồng phạm.
Quyền được nhận làm con nuôi. Trẻ em vì một nguyên nhân nào đó không có cha mẹ, đều có quyền có một gia đình và được nhận làm con nuôi dưới hình thức hợp pháp. Cấm mọi hành vi mua bán trẻ em. Hãy nhớ rằng buôn bán trẻ em là một tội ác.