Chương I : Khdi niệm về quyên công tế. Chương II : Thuc hành quyền công 16. Chương Hl: Phương hướng nâng cao hiện qúa hoạt động của VESND khi thực hành quyên công tố trong tố tụng hình sự. ‘rong quá trình nghiên cứu.
người thực hiện để tài gặp rat nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm, thiếu các tài liệu tham khảo, vừa công tác, vừa nghiên cứu nền nội đung luận án chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót và hạn chế, Tuy nhiên, được sự quan tâm giúp đở của cơ quan, bạn bè đồng nghiệp xa gần, những người có kinh nghiệm đi trước và nhất là giáo viên hướng dẫn PTS Nguyễn Thái Phúc, để tài đến nay đã hoàn thành. Tôi xin trần trọng gởi đến cơ quan, đơn vi. đồng nghiệp và PTS Nguyễn Thái Phúc lời biết ơn chân thành nhất cũng như các tác giả của các tập sách báo, các tư liệu giúp tôi hoàn thành luận ấn này, Kính mong sự đóng góp chân thành của độc giả và Hội đồng báo vệ Luận án để luận án dược hoàn chỉnh tốt hơn về nội dung cũng như về hình thức, Ouy Nhơn, ngày 28 tháng O2ndm 199%, Người thực hiện tfgity€rt Quan Slash CHUONG I KHÁI NIEM VỀ QUYỀN CÔNG TO 1.1- Lich sử hình thành quyển công tố : 1.1 Khi xã hệi phân chia giai cấp thì Nhà nước xuất hiện. Thời kỳ đẩu.
bộ máy Nhà nước tổ chức một cách đơn gián và phân định chức năng của các cơ quan Nhà nước chưa được rõ ràng. Nhà nước chiếm hữu nô lệ chưa có Tòa án, việc giải quyết tranh chấp do một số người đứng đầu giai cấp, thống trị kiêm nhiệm, Tuy nhiên, với sự phát triển và kiện toàn bộ máy Nhà nước, ở xã hội chiếm hữu né lệ vào thế kỷ 3 trước công nguyên, lần đầu tiên Nhà nước La Mã cổ đại thành lập cơ quan xét xử ( Tòa án ) và tách khỏi cơ quan hành chính ( Bách khoa toàn thư, tập 22 NXB Macxcova 1975 ). khái niệm " xé! xứ " và " toa án " xuất hiện cuối thời kỳ chiếm hữu nô lệ và chỈ ổ mot số nước phát triển, còn như cả ở Pháp thì cơ quan xét xử mãi đến cuối thời kỳ phong kiến mới được thành lập và tách khỏi cơ quan hành chính. Trước đó, việc xét xử do các quan chức trong triểu đình kiêm nhiệm và là người đại diện cho quyển lực Nhà Vua chứ không phải đại diện cho công quyền.
18 các nhà khoa học pháp lý cửa Pháp da có những công trình nghiên cứu liên quan đến việc cải cách bộ máy Nhà nước. Ho đã đưa ra thuyết tam quyển phân lập. nguyên tắc thấm phán bầu, nguyên tẮt suy đoán v6 tôi và đòi hỏi hệ thống cơ quan Tư pháp phải tách ra khỏi cơ quan hành pháp và độc lập xét xử. Dây thật sự là một bước nhay vọt có ý nghĩa to lớn đối với hệ thống cơ quan Tu pháp cửa xã hội loài người.
Là con dé củ: cuộc cách mạng này, Viện công tổ đầu tiêu trên thể gidi được thành lập ở Phap, con ở Nga, Viện công tổ được thành lập năm 1772.2 - Cuối xã hội chiếm hữu nô lệ đầu xã hội phong kiến, bộ máy Nhà nước ngày càng hoàn thiện và phát triển. Một số Nhà nước phong kiến đã lập Tòa án nhân danh Nhà nước để xét xử những vụ án xâm phạm đến lợi ich nhà Vua, Do đó, thử tục xét xử của Tòa án dan dan được hình thành. Tố lung xét xử của Tòa án được chiếu theo ngôi thứ, địa vị trong xã hội. Tòa án cửa nhà thờ chiếm giữ địa vị rất quan trọng, thường nhân danh “ đấng 167 cao” .* thượng dé” để xét xử và trừng phạt những người ví phạm tới giáo huấn nhà thờ, DEn thế kỷ 13 - 14 với sự tách Tòa án ra Khổi cơ quan hành pháp, sự phát triển của hệ thống pháp luật quyển công tố mới xuất hiện.
I1ệ thống cơ quan Tư pháp và tố tụng của xã hội phong kiến Tây Au. kả x4 % a với sự phát triển cửa các Tòa án cửa Nhà Vua, sự ra đời của các tổ chức luật sử và đặc biệt là sự xuất hiện Viện công tố đã nói lên sự phát triển vượt bậc của pháp luật lúc bấy giờ, 1.3 Tố tụng hình sự Nhà nước tư sản phát triển mạnh mẽ, có quy định về quyển công tố thuộc về Tòa án hay còn gọi là thẩm phán công tố, (Quyển công tố cứa các nước thuộc hệ thông Anh-Mỹ (bồi thẩm đoàn) rất rộng. Cơ quan thực hiện quyền công tốNhà nước trong các nước tư sẩn gọi là Viện công tố (Parquet). “Viện công tố có chức năng đại diện cho quyền lợi xa hội của Nhà nude trước Tòa án, bdo ddm cho pháp luật được tuân thi, những hành vi phạm tội dugc xử lý nghiêm minh, công tác xéi xử đúng dấn.
VỀ hình sự Viện côn g 16 truy tốkã phạm lội ra trước Tòa án. Viện công tố được thành lập ở các tòa án sơ thẩm. Tòa án # X 2 z TA 2 z z_ +s dạt mình, Ở các Tòa dn phác tá” (1). 6 [lệ thống cơ quan VKS Nga được thành lập ngày 28/05/1922 va tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo ngành, Các nước XHCN (cũ) được thành lập sau đó (năm 1945), Tuy không xuất hiện cùng với Nhà nước nhưng lịch sử quyền công tố gắn lién với sự phát triển của Nhà nước, về sự hoàn thiện của hệ thống Pháp luật, Từ khi xuất hiện quyền công tố Nhà nước luôn luôn thể hiện bản chất của Nha nước đó là việc khẳng định vai trò.
vị trí của Nhà nước trong việc Lấn công tội phạm, 1.4- -Lịch sử quyền công tốViệt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay: Wyay từ khi được thành lập, Nhà nước ta đã sử dụng bộ máy công tố làm công cụ bảo vệ và phục vụ sự nghiệp cách mạng cửa nhân dân. Với mục đích đó, ở mỗi giai đoạn cách mạng, bộ máy công tố và nhiệm vụ quyền hạn của nó được tổ chức và quy định có khác nhau. Sắc lệnh 33/SL ngày 13/9/1945 thiết lập các Tòa án quân sự, đã quy định các ủy viên Quân sự (công tố tty viên) thay mặt Nhà nước buộc tội các bị cáo. Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 thiết lập Tòa án thường có quy định “Toa đệ nhí gồm có: mot chánh án, một biện lý, một dự thẩm” (Điều 15); “tại phiên Tòa, chánh án ngồi xử, biện lý ngồi ghế công tố viên” (Điều 16); “ông Chưởng lý hoàn toàn giữ quyển truy (6 và hành động” (Diéu 51).
Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 xác dịnh rõ vị trí của công tố, quy dịnh cu thể nhiệm vụ của CHưởng lý và biện lý “Ông Biện lý bdt buộc phải có mặt tại các phiên toa hình “; “Khi cuộc thẩm vấn tại các phiên Tòa xong rồi, ông Biện lý thay mặt xã hội buộc toi bị can” (Điều 26). "Về tiệc hình khi dn da tuyên rồi. ông Điện lý h cing HH HHHP1Đ9 & HGHỜI ME duong su : CÓ d4, quvén khng cdo” (Điều 28). Mội số sắc lệnh khác như sắc lệnh 131/SL ngày 20/7/1947, sắc lệnh sổ 19/51, ngày 16/02/1947.
Theo các sắc lệnh nêu trên thì hệ thống tòa án nhân được thành lập ở 3 cấp : Tòa sơ thẩm, ở cấp quận, huyện, tòa đệ nhị cấp ở cấp tính và thành phổ; tòa thượng thẩm ở 3 khu vực: Bắc bộ /Trung bộ, Nam bộ. Bộ tư pháp là cơ quan Trung ương quần lý Tòa án các cấp. Ngach thẩm phần chia làm 2 loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội ( Thẩm pháp buộc tội gọi là công tố ủy viên ). Hé thống công tố ở tòa thượng thấm và tòa để nhị cấp do môi viên chưởng lý đứng đầu.
Các công tố viền có nhiệm vu: - Pw pháp cảnh sát( điều tra) - Thực hành quyền công tố. - Cảnh sát điều tra, Mặc dd con nằm trong Tòa án, nhưng công tố viên thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập và chịu sự lãnh đạo thống nhất của viên Chưởng lý. Ngoài nhiệm vụ đại điện cho công quyền; thực hiện quyền công tố trước tòa, các cấp ủy viên công tố còn có quyền giám sát hoạt động diéu tra của tư phấp công an ( nay là cơ quan điều tra ). ‘Vai hội nghị lần thứ 14 ( thang II năm 1958 ) BCHTW Dang đã chủ trương ting cường Nhà nước đân chủ nhân dân và tăng cường sự lãnh dao của Dang đối với chính quyền các cấp từ TW đến cơ sở.
Trong tình hình chung đó, từ Bộ máy Nhà nước nói chung, quyển công tố Nhà nước nói riêng được tang cường và cải cách thêm một bước mới. Tháng 4 năm 1958, Quốc hội quyết định thành lập Viện công tố nhân đân Trung ương, tách hệ thống Viện công tô ra khỏi Bộ tư pháp. Quyết định này đánh dau một giai đoạn phát triển mới của Viên công tố nói chung và quyển công tố nói riêng. Điều đã ghinhdu vào Hiển pháp nam 1959 của nước Việt Nam Dâu chủ cộng hòa.
Nhiệm vụ chủ yếu của Viện công tố là đưa các vụ án hình sự ra tòa. Trong thời kỳ năm 1945 tới khi Nhà nước ta ban hành bản Hiến pháp thứ 2 vào tháng 12 năm 1959 trong TTHS, chức năng công tố được giao Thẩm phán buộc tội. TY năm 1961 trên cơ sở các quy định của chương 8 Hién pháp 1959 và Luật tổ chức VKSND năm 1960, hệ thống VKSND ra đời với nhiều chức năng. “ Ở nước ta từ năm 1945 đến nay, một trong nhiễu nguyên tắc quan trọng của TTHS luôn thé hiện mét cách nhất quản là nguyên tắc công tố “(2) Theo quy định của Hiến pháp năm 1959 thì có thể hiểu rằng các cơ quan Tư pháp là Tòa án nhân và Viện kiểm sát nhân dân.
“ Hai co quan Tut pháp này không còn truc thuộc lội đồng chính phủ nữa mà chịu trách nhiệm lưío cáo trước ca quan quyền lực Nhà nước đó là Quốc hội”. Sự phát triển của các nhiệm vụ cách mạng mới đặt ra những yêu cầu mới nhằm cứng cố và tăng cường nên pháp chế XHCN. Để bảo đảm pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, Nhà nước ta cần thiết phải có bộ máy chuyên môn dé giám sát việc tuân thco pháp luật, phát hiện để xử lý hành vi vi phạm pháp luật. Vấn để này Lénine đã nói rằng có pháp luật là tốt.
nhưng ngoài ra khong thể thiếu một bộ máy quyền lực để bảo dam việc tuân theo pháp luật. Đó là lý do Dang và Nhà nước ta chứ trương thành lập VKSND.