Luận văn thạc sĩ về quyền bề mặt theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls quyền bề mặt theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2019

107
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BỀ MẶT

1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM QUYỀN BỀ MẶT

1.2. SO SÁNH QUYỀN BỀ MẶT VỚI QUYỀN HƯỞNG DỤNG VÀ QUYỀN THUÊ ĐẤT DÀI HẠN

1.3. PHÁP LUẬT CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN BỀ MẶT

1.4. Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH QUYỀN BỀ MẶT TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ QUYỀN BỀ MẶT

2.1. CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN BỀ MẶT. HIỆU LỰC CỦA QUYỀN BỀ MẶT VÀ THỜI HẠN QUYỀN BỀ MẶT

2.2. NỘI DUNG CỦA QUYỀN BỀ MẶT

2.2.1. Các quyền năng của chủ thể quyền bề mặt

2.2.2. Nghĩa vụ của chủ thể quyền bề mặt

2.3. CHẤM DỨT QUYỀN BỀ MẶT VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC CHẤM DỨT QUYỀN BỀ MẶT

2.3.1. Chấm dứt quyền bề mặt

2.3.2. Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quyền bề mặt

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN BỀ MẶT VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

3.1. THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BỀ MẶT

3.2. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ QUYỀN BỀ MẶT

3.2.1. Kiến nghị về lập pháp

3.2.2. Kiến nghị về tổ chức thực hiện

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền bề mặt theo Bộ luật Dân sự 2015

Quyền bề mặt là một trong những khái niệm mới được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam. Khái niệm này không chỉ mang tính chất lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong các giao dịch dân sự. Quyền bề mặt cho phép cá nhân hoặc tổ chức xây dựng công trình trên đất mà không cần phải sở hữu đất đó. Điều này tạo ra nhiều cơ hội cho việc phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

1.1. Khái niệm quyền bề mặt và đặc điểm của nó

Quyền bề mặt được hiểu là quyền của một cá nhân hoặc tổ chức được xây dựng công trình trên một mảnh đất mà không phải là chủ sở hữu của mảnh đất đó. Đặc điểm nổi bật của quyền bề mặt là tính độc lập với quyền sở hữu đất, nghĩa là quyền bề mặt có thể được chuyển nhượng, cho thuê hoặc thừa kế mà không ảnh hưởng đến quyền sở hữu đất.

1.2. So sánh quyền bề mặt với quyền hưởng dụng và quyền thuê đất

Quyền bề mặt khác với quyền hưởng dụng và quyền thuê đất ở chỗ quyền bề mặt cho phép xây dựng công trình trên đất, trong khi quyền hưởng dụng chỉ cho phép sử dụng tài sản mà không có quyền xây dựng. Quyền thuê đất lại là một hình thức hợp đồng, trong đó bên thuê chỉ có quyền sử dụng đất trong thời gian nhất định mà không có quyền xây dựng.

II. Vấn đề và thách thức trong việc thực hiện quyền bề mặt

Mặc dù quyền bề mặt đã được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015, nhưng việc thực hiện quyền này vẫn gặp nhiều khó khăn. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn thi hành, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đồng nhất. Ngoài ra, việc xác định ranh giới quyền bề mặt và quyền sở hữu đất cũng gây ra nhiều tranh chấp.

2.1. Thiếu hụt văn bản hướng dẫn thi hành

Việc chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể về quyền bề mặt đã dẫn đến sự mơ hồ trong việc áp dụng pháp luật. Điều này khiến cho các bên liên quan gặp khó khăn trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

2.2. Tranh chấp liên quan đến quyền bề mặt

Tranh chấp giữa các bên liên quan đến quyền bề mặt thường xảy ra do sự không rõ ràng trong việc xác định quyền lợi. Các tranh chấp này có thể liên quan đến việc xây dựng công trình, sử dụng tài sản hoặc chuyển nhượng quyền bề mặt.

III. Phương pháp giải quyết vấn đề quyền bề mặt hiệu quả

Để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền bề mặt, cần có những phương pháp cụ thể và hiệu quả. Việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết là rất cần thiết để đảm bảo quyền lợi của các bên. Bên cạnh đó, việc tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về quyền bề mặt.

3.1. Xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành

Cần thiết phải xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể để làm rõ các quy định về quyền bề mặt. Điều này sẽ giúp các bên liên quan dễ dàng hơn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

3.2. Tăng cường tuyên truyền và giáo dục pháp luật

Tuyên truyền và giáo dục pháp luật về quyền bề mặt là cần thiết để nâng cao nhận thức của người dân. Việc này sẽ giúp giảm thiểu các tranh chấp và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền bề mặt

Việc nghiên cứu và ứng dụng quyền bề mặt trong thực tiễn đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Các dự án xây dựng sử dụng quyền bề mặt đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm và nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, vẫn cần có những biện pháp để khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện quyền này.

4.1. Kết quả tích cực từ việc áp dụng quyền bề mặt

Nhiều dự án xây dựng đã thành công nhờ vào việc áp dụng quyền bề mặt, tạo ra giá trị kinh tế cao và góp phần vào sự phát triển của địa phương.

4.2. Những hạn chế cần khắc phục

Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện quyền bề mặt. Cần có các biện pháp cụ thể để khắc phục những vấn đề này, đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan.

V. Kết luận và tương lai của quyền bề mặt theo Bộ luật Dân sự 2015

Quyền bề mặt theo Bộ luật Dân sự 2015 là một chế định pháp lý quan trọng, góp phần vào việc phát triển kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, để quyền này được thực hiện hiệu quả, cần có sự hoàn thiện trong các quy định pháp luật và tăng cường công tác quản lý. Tương lai của quyền bề mặt sẽ phụ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề hiện tại và tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho các bên liên quan.

5.1. Tầm quan trọng của quyền bề mặt trong phát triển kinh tế

Quyền bề mặt đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, tạo ra cơ hội cho các dự án xây dựng và đầu tư. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư mà còn cho cộng đồng địa phương.

5.2. Định hướng phát triển quyền bề mặt trong tương lai

Cần có các định hướng phát triển rõ ràng cho quyền bề mặt trong tương lai, bao gồm việc hoàn thiện các quy định pháp luật và tăng cường công tác quản lý để đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền bề mặt theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BỀ MẶT 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM QUYỀN BỀ MẶT 1. Khái niệm quyền bề mặt Một trong những điểm mới nhất trong Bộ luật dân sự năm 2015 đó là việc vận dụng lý thuyết “vật quyền” trong việc sửa đổi chế định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005 thành chế định quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản. Dù cho Bộ luật dân sự năm 2015 không sử dụng thuật ngữ vật quyền thì chúng ta cũng phải thừa nhận rằng các nội dung của chế định quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản chính là những nội dung đƣợc vận dụng từ vật quyền, trong đó tiêu biểu là chế định về “quyền bề mặt”.

Do đó, để đƣa ra đƣợc khái niệm về quyền bề mặt, chúng ta phải giải thích đƣợc các thuật ngữ pháp lý nhƣ sau: quyền; vật quyền và quyền bề mặt. “Quyền” là điều mà Nhà nƣớc và pháp luật hoặc xã hội công nhận cho đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi [8]. “Vật quyền” theo một cách hiểu chung nhất khi cắt nghĩa thì đó chính là quyền đối với tài sản. Trong khoa học pháp lý, vật quyền đƣợc hiểu theo hai góc độ khác nhau: Thứ nhất, vật quyền theo định nghĩa trong học thuyết pháp lý ở các nƣớc chịu ảnh hƣởng của luật La Mã là quyền đƣợc thực hiện trực tiếp và ngay lập tức trên một vật.

Ngƣời có vật quyền thực hiện các quyền của mình mà không cần sự hợp tác của ngƣời khác [31]. Nói đến khái niệm vật quyền thì phải bắt đầu từ luật La Mã mặc dù luật La Mã không đƣa ra khái niệm vật quyền cũng nhƣ các luật gia La Mã không phân biệt quyền tài sản thành vật quyền và trái quyền, tuy nhiên lý thuyết vật quyền lại đƣợc xây dựng từ kết quả phân tích 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các đặc điểm của quyền sở hữu trong luật La Mã. Các luật gia La Mã xác định: Một chủ thể có thể tạo ra một tài sản hoặc mua một tài sản, trên cơ sở đó họ là chủ sở hữu đối với tài sản đã tạo ra, đã mua và khi trở thành chủ sở hữu thì họ có toàn quyền đối với tài sản đó, đƣợc thực hiện tất cả các hành vi tác động lên tài sản để thỏa mãn yêu cầu của mình và không phụ thuộc vào ý chí cũng nhƣ hành vi của ngƣời khác. Ngƣời ta nhận thấy các quyền này mang tính chất tuyệt đối và độc nhất, nghĩa là chủ sở hữu có tất cả các quyền đối với tài sản và tập trung các quyền đó trong tay của mình.

Dựa trên tính chất đó mà các luật gia sau này đã xây dựng nên khái niệm vật quyền và trái ngƣợc với nó là trái quyền [41]. Thứ hai, vật quyền đƣợc hiểu là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về vật với tƣ cách là đối tƣợng của vật quyền, nội dung của các loại vật quyền, căn cứ phát sinh, chấm dứt các loại vật quyền, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật quyền, các hạn chế mà ngƣời có vật quyền phải tuân thủ khi thực hiện các quyền năng của mình. Nói cách khác, theo cách hiểu này thì vật quyền chính là sự quy định của pháp luật về vật, về các quyền của chủ sở hữu và ngƣời không phải là chủ sở hữu đối với vật [25]. Khái niệm vật quyền đã đƣợc sử dụng một cách rộng rãi trong hệ thống pháp luật dân sự của những nƣớc thuộc hệ thống pháp luật Civil Law.

Ví dụ nhƣ tại Bộ luật Napoleon (1804) – Bộ luật Dân sự đầu tiên trên thế giới có quy định về vật quyền (quyền trên vật) tại phần thứ hai. Trong Bộ luật dân sự của Nhật Bản cũng quy định về vật quyền tại phần thứ hai. Bộ luật dân sự Cộng hòa Liên Bang Nga năm 1995 cũng có quy định về quyền sở hữu và các loại vật quyền khác trong phần thứ hai, và sau 20 năm tồn tại, dự thảo của Bộ luật dân sự mới nhất của Nga, tên gọi này đã đƣợc dự kiến thay bằng “vật quyền” để đảm bảo tính ngắn gọn, phù hợp với thông lệ quốc tế [11]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong quá trình xây dựng dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2015, đã từng có thời điểm Ban soạn thảo đƣa ra khái niệm “vật quyền” vào trong dự thảo và sửa đổi chế định “Tài sản và quyền sở hữu” quy định ở phần thứ hai của Bộ luật dân sự năm 2005 thành chế định “Quyền sở hữu và các vật quyền khác”.

Dự thảo sửa đổi này nhằm hƣớng tới mục tiêu xây dựng hệ thống vật quyền đầy đủ ở Việt Nam thông qua việc thừa nhận sự tồn tại của nhiều loại vật quyền khác nhau bên cạnh quyền sở hữu, đƣa các loại quyền tài sản trở về đúng bản chất của nó, phân định rõ hơn các hình thức sở hữu, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền tài sản của các chủ thể pháp luật. Tuy nhiên, đến dự thảo cuối cùng đƣợc Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII (đã có hiệu lực từ 1/1/2017) thì khái niệm vật quyền không còn đƣợc sử dụng nữa, phần thứ hai của Bộ luật dân sự năm 2005 đƣợc sửa đổi thành “Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản”. Giải thích về lý do không sử dụng khái niệm vật quyền trong Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà làm luật cho rằng việc sử dụng một thuật ngữ hoàn toàn mới trong luật Việt Nam cần phải đƣợc cân nhắc và có tính thuyết phục, bởi lẽ khi sử dụng một thuật ngữ pháp lý mới khiến chúng ta phải thống nhất cách hiểu, lại dùng từ ngữ Hán Việt nên ngƣời dân khó hiểu, có thể sẽ đi ngƣợc lại với xu hƣớng thay đổi về mặt lập pháp ở Việt Nam. Bởi lẽ khi xây dựng một chế định pháp luật hay một thuật ngữ pháp lý, dù là nhỏ hay lớn thì tiêu chí đặt ra đó là phải dễ hiểu, dễ tiếp cận đối với mọi chủ thể trong xã hội [17].

“Quyền bề mặt” là khái niệm mới đƣợc quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam, nhƣng đối với các nƣớc trên thế giới thì đây là khái niệm không hề mới, thậm chí đã đƣợc quy định từ rất lâu trong luật dân sự La Mã. Dựa trên những tƣ liệu lịch sử của nhân loại, các nhà nghiên cứu cho rằng thuật ngữ “Quyền bề mặt” (Superficies) đã đƣợc hình thành từ rất sớm khoảng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 439 Trƣớc Công nguyên, khi luật 12 Bảng của nhà nƣớc La Mã ra đời. Cụ thể, thuật ngữ quyền bề mặt đã xuất hiện trong Bộ tập hợp Corpus Juris Civilis – BLDS đồ sộ nhất của Luật La Mã vào thời kỳ hoàng đế Justinian (năm 529 Sau Công nguyên) [38]. Quan điểm của một số nƣớc trên thế giới cho rằng quyền bề mặt là quyền gắn với bề mặt đất để xây dựng công trình, là một trong số quyền thuộc quyền sở hữu.

Đây cũng là quy định theo luật La Mã. Theo đó, quyền bề mặt chỉ là quyền đối với phần mặt đất và không có quyền đối với các khoáng chất dƣới lòng đất, không gian trên mặt đất, mặt nƣớc hay bầu trời. Mà các quyền này độc lập với nhau và có thể chuyển nhƣợng nhƣ với các tài sản thông thƣờng. Theo đó thì quyền bề mặt là quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và không bao gồm quyền đối với khoáng sản trong lòng đất.

Ở luật La Mã, các quyền đối vật (vật quyền) bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sở hữu, quyền địa dịch, quyền dụng ích cá nhân, quyền bề mặt và quyền cầm cố. Quyền bề mặt có hai dạng đặc biệt là: quyền của ngƣời thuê trƣờng kỳ đất canh tác và quyền xây dựng các công trình trên đất của ngƣời khác. Các vật quyền này đƣợc chia thành hai loại: vật quyền chính yếu và vật quyền phụ thuộc. Trong đó, quyền bề mặt là vật quyền phụ thuộc, là vật quyền đƣợc xác lập đối với tài sản của ngƣời khác, là quyền của chủ thể không phải là chủ sở hữu của tài sản nhƣng có quyền sử dụng và hƣởng những lợi ích mà tài sản đó đem lại.

Vật quyền phụ phải phát sinh trên cơ sở vật quyền chính (vật quyền chính luôn có trƣớc), tác động hạn chế lên vật, không xâm phạm lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu vật, nên vật quyền phụ còn đƣợc gọi là vật quyền hạn chế. Quyền bề mặt đƣợc pháp luật các quốc gia quy định là vật quyền phụ thuộc hay vật quyền hạn chế. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quyền bề mặt (Superficies) là quyền sử dụng bề mặt đất để tạo lập các tài sản gắn liền với đất. Trƣờng hợp phổ biến nhất của quyền bề mặt là các công trình đƣợc xây dựng trên đất của ngƣời khác.

Mỗi công trình xây dựng đều đƣợc coi là một phần của đất mà nó đƣợc đặt trên. Ngƣời có quyền bề mặt có quyền đƣợc hƣởng bề mặt, có thể chuyển nhƣợng, thế chấp, cầm cố trong thời gian anh ta hƣởng quyền của mình, có thể để thừa kế theo di chúc và có thể bảo vệ quyền của mình theo phƣơng thức kiện vật quyền. Một ngƣời có thể có quyền bề mặt bằng cách thỏa thuận với chủ sở hữu đất cho phép xây dựng công trình trên đó, phải thanh toán chi phí hợp lý theo thỏa thuận. Quyền bề mặt giống nhƣ là quyền canh tác, là vô thời hạn hoặc trong một thời gian dài.

Quyền bề mặt đƣợc xác lập, chuyển dịch và chấm dứt giống nhƣ quyền canh tác. Quyền bề mặt cũng có thể chấm dứt khi hết thời hạn thuê, hoặc không trả tiền thuê trong một thời gian nhất định. Liên quan đến quyền bề mặt cần đề cập đến nguyên tắc của sở hữu đất, đó là những gì có trên đất đều thuộc về đất (Superficies solo cedit), nguyên tắc này vẫn đƣợc nhiều quốc gia ngày nay ghi nhận. Nó đƣợc hiểu là những tài sản có trên đất đều đƣợc coi là một phần của đất và thuộc về chủ sở hữu của mảnh đất đó [21].

Quan điểm khác cho rằng Quyền bề mặt bao gồm cả quyền đối với phần không gian trên đất và cả phần không gian dƣới lòng đất. Đây là quan niệm đƣợc hầu hết các nƣớc Châu Âu sử dụng nhƣ trong pháp luật của Đức, Nga, Hà Lan và một số nƣớc khác. Để xác lập quyền bề mặt, chủ thể có tài sản thuộc sở hữu quyền bề mặt có quyền đối với những bất động sản hữu hình, những tài sản này phục vụ cho việc khai thác công dung của đất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu quyền bề mặt theo Bộ luật Dân sự 2015" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền bề mặt trong khuôn khổ pháp lý của Việt Nam. Tác phẩm này không chỉ phân tích các quy định pháp luật liên quan mà còn làm rõ các khía cạnh thực tiễn trong việc áp dụng quyền bề mặt, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan.

Đặc biệt, tài liệu này mang lại lợi ích cho những ai đang tìm hiểu về luật dân sự, giúp họ nắm bắt được các quy định mới và cách thức thực hiện quyền bề mặt một cách hiệu quả. Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ năng khởi kiện vụ án dân sự, nơi cung cấp những kỹ năng cần thiết trong việc khởi kiện vụ án dân sự. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự theo cấp xét xử của tòa án nhân dân qua thực tiễn tỉnh thừa thiên huế cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thẩm quyền xét xử trong các vụ án dân sự, từ đó nâng cao khả năng áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các vấn đề liên quan đến quyền bề mặt và luật dân sự.