Đặt vấn đề Sap ong được lấy được sau khi thu hoạch tổ ong và bỏ đi lớp màng phía bên ngoài. Có thé hiểu, sáp ong chính là nơi sống của ong có hình dạng như một khối lớn với nhiều lỗ nhỏ trên bề mặt, nó được hình thành do ong thợ của loài ong mật thuộc chi Apis có tuổi từ 12-18 ngày tiết ra từ lớp vay sáp giữa đoạn bụng. Đối với loài ong, sáp ong đóng vai trò như một hang rao tự nhiên giúp bảo vệ tổ của chúng khỏi các loại sinh vật khác từ bên ngoài muốn xâm nhập vào. Sáp ong được sử dụng cho mục đích mỹ phẩm (25-30%), được (25-30%), nến (20%), mục đích khác (10-20%), được sử dụng trong nhiều loại sản pham va quy trinh khác nhau từ đóng gói đến chế biến và bảo quản.
Ví dụ trong mỹ phẩm như: kem, son môi, nhiều loại nến thơm. Trong ngành dược, sáp ong được sử dụng trộn với thuốc vì tinh tro dé giảm quá trình giải phóng thuốc,. Ngoài ra, còn giúp bảo vệ da chống lại bức xạ UVB (280 — 315 nm) bằng cách hấp phụ cực dai ở bước sóng 325 nm và kích thích sự thay đổi tế bào da [2], [3]. Trong ngành thực phẩm, sáp ong cũng được sử dụng như chất phụ da E901, với lượng nhỏ hoạt động như tác nhân tráng men, giúp ngăn ngừa mat nước hoặc dùng bảo vệ bề mặt một số loại trái cây.
Có thé tìm thay du lượng acaricide đến 10 mg/kg trong sáp ong. Counmaphos, /-Flunavinate, Clorfenviphos và nhiều chat mang gốc thuốc bảo vệ thực vật khác trong sáp ong [6]- [7]. Đối với ngành công nghiệp mỹ phẩm đặc biệt là son môi, sáp ong có công dụng làm mềm da, dưỡng âm,. Để sản xuất son môi đạt chất lượng cần phải có nguồn nguyên liệu sáp ong đã được tinh sạch không bị ảnh hưởng đến người tiêu dùng.
Do đó, bắt buộc phải có một quy trình tinh sạch sáp ong hiệu qua dé đạt được chất lượng làm nguồn nguyên liệu sạch cho các ngành khác đặc biệt là ngành mỹ phẩm. Được sự phân công của Bộ môn Công nghệ Hóa học cùng với sự hướng dẫn của ThS.Trần Đình Hương và TS. Nguyễn Bảo Việt tôi thực hiện dé tài “Nghiên cứu quy trình tinh sạch sáp ong (Beeswax)”. Mục đích đề tài Tim được phương pháp phù hợp dé có thé tinh sạch sáp ong.
Nội dung Nội dung 1: Khảo sát chỉ tiêu hóa lý và cảm quan của nguyên liệu sáp ong. Nội dung 2: Khảo sát các phương pháp tây trắng sáp ong khác nhau. Nội dung 3: Đánh giá chất lượng sáp ong đã được tay màu. Đối tượng nghiên cứu Sap ong (Beeswax) của giông ong Y (Apis mellifera).
Pham vi nghién ciru Sap ong được thu hoạch tại tỉnh Tiền Giang. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn: Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu góp phần cung cấp các dữ liệu khoa học về các phương pháp tinh chế sáp ong, phục vụ các nghiên cứu sâu hơn đối với sáp ong ở Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu góp phan cung cấp các dit liệu khoa học về các phương pháp tinh chế sáp ong, phục vụ các nghiên cứu sâu hơn đối với sáp ong ở Việt Nam. Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về sáp ong 2. Tên gọi - Sap ong - Tén tiếng anh: Beeswax Theo nghiên cứu Bogdanov (2004), sáp ong là chất do ong thợ của loài ong mật thuộc chi Apis có tuổi từ 12-18 ngày tiết ra từ lớp vay sáp giữa đoạn bụng. Ngay khi được tiết ra, sáp còn ở dang lỏng, trải qua quá trình nhào trộn với nước bọt của ong, sáp được cô đặc lại dưới đạng viên và trở thành vật liệu xây dựng các lỗ cấu trúc trong các tang của tô ong [8]. Loài ong sử dụng sáp ong dé xây dựng tổ theo từng lỗ có hình lục giác với nhiều chức năng khác nhau như chứa phan hoa, mật ong, hay chỗ ở cho những con non,.
Nghiên cứu của Bogdanov (2016), hoạt động sản xuất sáp và xây tô phụ thuộc vào các yếu tố: lượng mật cần lưu trữ, lượng trứng ong, sự hiện diện của ong chúa, nhiệt độ, phan hoa,. Tình hình nuôi ong ở Việt Nam Điều kiện khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam thuận lợi cho hệ sinh thái và sự phát triển của nganh nuôi ong lẫy mật. Hiện nay, các vùng nuôi ong tập trung ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và vùng núi phía Bắc với nguồn mật chính từ cây cao su, tràm, cà phê, điều, vải, nhãn, keo, bạch đàn, bạc hà. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2017), cả nước có 1,2 triệu đàn ong.
Trong đó, số đàn ong nội khoảng 200.000 đàn và số đàn ong ngoại khoảng 1 triệu đàn. Số người nuôi ong khoảng 30.000 người, trong đó có 6 nghìn người nuôi chuyên nghiệp. Việt Nam hiện đang đứng thứ 6 thế giới và thứ 2 Châu Á về xuất khâu mật ong, hàng năm, Việt Nam sản xuất ra trên 55.000 tan mật ong và hơn 1.000 tan sáp ong, trong đó khoảng 85- 90% sản lượng mật của Việt Nam được xuất khẩu [1 1]. Các sản phẩm từ ong được sản xuất sang thị trường Mỹ là chủ yếu, chiếm từ 90- 95% tổng sản lượng xuất khâu, chỉ có 5-10% là tiêu thụ trong nội địa và xuất khâu sang các khu vực khác.
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vững (2010), Tiền Giang là tỉnh trung tâm của nghề nuôi ong trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Ở đây, chủng loại cây nguồn mật rất đa dạng và thời gian khai thác mật của người nuôi ong đến trên 10 tháng/năm. Hiện nay, người nuôi ong của các tỉnh khu vực Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ thường chuyển ong về tỉnh này và các tỉnh khác thuộc Đồng bằng Sông Cửu long để dưỡng ong trong các vụ khó khăn, vụ nhân đàn hoặc để khai thác Nhãn. Các loại cây làm nguồn mật chính ở đây là các loại cây ăn quả như nhãn, táo,.
đem lại khả năng cho lượng mật lớn. Theo điều tra năm 2010 thì tỉnh Tiền Giang có số lượng đàn ong mật là 75. Sản lượng mật ong bình quân năm 2010 là 18 tan/trai và tổng sản lượng cả tỉnh là 2.500 tấn, sản lượng sáp ong thu nhận được là 297,6 kg/trang trại. Năm 2010, Tiền Giang xuất khẩu 2.500 tấn mật chủ yếu qua Mỹ và các nước trong khu vực [12].
Tính chất vật lý và thành phần hóa học Sáp ong là hỗn hợp của nhiều loại ester tạo nên giữa rượu đơn chức và acid béo bậc cao cùng với hydrocacbons va alcohols. Người ta thường chia sáp ong thành 2 loại với những đặc tính khác nhau là sap ong phương Đông (Apis cerana- ACH) va sap ong phương Tây (Apis mellifera- AMH). Nghiên cứu của Zang và các cộng sự (2018) về sự khác nhau đáng ké về thành phần protein và thành phần hydrocacbons có trong mật ong của 2 loài ong này. Sự khác nhau trong thành phần của mật ong cũng dẫn đến sự khác nhau của sáp ong của 2 loài ong trên.
Mỗi loài ong có khu vực và điều kiện sống khác nhau nên nguồn lấy thức ăn của mỗi loài cũng khác nhau nên gây ra sự khác biệt về đặc tính của sáp ong từng vùng. Màu của sáp ong mới tạo ra là màu trắng và nó thay đổi theo thời gian sử dụng thành màu vàng, vàng sam và nâu. Màu vàng là do chất mau có nguồn gốc từ keo ong và phan hoa, còn mau nâu là do sắc tố của phân au trùng bai tiết ra. Chất lượng va lượng sáp tiết ra phụ thuộc vào lượng phấn hoa có trong thức ăn của ong.
Sáp ong có mùi của mật ong, không có vị, bề mặt sáng và khi chạm vào có hơi rít. Sáp ong được sử dụng nhiều trong mỹ phẩm vi tính ổn định về mặt cấu trúc, có hoạt chất kháng khuẩn chống viêm đau và nhiễm trùng [1]. Thành phần hóa học trong sáp ong [9] Thành phần Số lượng (%) Monoester 35 Diesters 14 Triesters 3 Hydroxy monoesters 4 Hydroxy polyesters 8 Acid esters 1 Acid polyesters 2 Hydrocarbons 14 Acids tu do 12 Alcohols 1 Khac 6 Tổng 100 Sáp ong là một hỗn hợp có hơn 300 các loại hợp chất khác nhau. Trong đó, các hợp chất được chia thành 4 nhóm: Ester, acid béo tự đo, hydrocarbon va alcohols tự do [9], [13]: Ester: Chiếm khoảng 67% thành phan sáp.
Chủ yếu là các ester của acid palmitic, palmioleic, hydroxy palmitic với các rượu có phân tử lớn. - Hydrocarbon: Chiếm khoảng 13-15%, phần lớn là hydrocarbon no và có số lượng nguyên tử carbon lẻ kéo dài từ C23 — C35. - Acid béo tự do: Chiếm khoảng 12% là acid béo no có số lượng nguyên tử carbon chan từ C16 - C24 (acid palmitic và acid tricozanoic) - Alcohols: Chiếm khoang 1%. Đối với diol, phân tử rượu có số carbon chẵn từ Cạ¿¡ đến Ca; và đến Css đối với các monol.
Sap ong có tỷ trọng từ 0,95 đến 0,97 g/ml. Nhiệt độ nóng chảy từ khoảng 61 đến 66°C [14]. Sáp ong không bị thủy phân, không bị oxy hóa và không bị axit phân hủy. Rat ít tan trong cồn lạnh và tan trong dau dé bay hơi, cloroform, ete, benzen va carbon disulfide ở 30°C.
Sáp có thê trộn lẫn với sáp parafin và các loại mỡ khác[9]. Chỉ tiêu hóa lý theo QCVN 4 — 20:2011/BYT [15]: Chỉ tiêu Giới hạn Cảm quan: Màu sắc Màu vàng hoặc nâu sáng. Hỗ ớt Khi vớ Khi lạnh dễ vỡ, khi vỡ tạo thành miếng. ; mờ duc, dang hat, không có dạng tinh thé.
Mùi Có mùi mật ong Trạng thái (35°C) Trở nên mềm dẻo Đặc trưng hóa ly: Nhiệt độ nóng chảy 62 — 65°C Chi số acid 17-24 Chi sé peroxyde Không được quá 5,0. Chỉ số xà phòng hóa 87 — 104 2. Tính ứng dụng của sáp ong Từ xa xưa sáp ong đã được sử dụng dé làm nến thắp sáng. Hiện nay, nến sáp ong được sử dụng trong các dịp lễ trang trọng.
Các sản phẩm nến sáp ong thơm ngày càng phố biến và được ưa chuộng với nguồn gốc thir thiên nhiên, không độc hai và giảm stress căng thắng trong khi sử dụng. Hiện nay, sáp ong được ứng dụng nhiều trong đời sống. Trong thực phẩm, sáp ông được ứng dụng màng bọc thực phẩm thay thé cho việc sử dụng ni-lon dé bảo quản. Sap ong còn đóng vai trò như chất phụ gia thực phẩm E901, với lượng nhỏ hoạt động như tác nhân tráng men, giúp ngăn ngừa mất nước hoặc dùng bảo vệ bề mặt một số loại trái cây.
Sáp ong cũng là một thành phần phổ biến trong kẹo cao su tự nhiên [4]. Đối với ngành công nghiệp my pham, sáp ong là một thành phần quan trong không thé thiếu. Góp mặt trong hầu hết các sản phẩm cho da với vai trò là chat tạo nhũ, giữ được sự 6n định về cau trúc cũng như tăng độ bóng.