ĐẶT VẤN ĐỀ Acid béo Omega-3 (hình 1.1) là những acid béo không thay thế có đa nối đôi, cơ thể con người không tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn bên ngoài. Trong các acid béo Omega – 3 quan trọng nhất là: α – Linolenic acid (ALA) được tìm thấy trong dầu thực vật, eicosapentaenoic acid (EPA) và docosahexaenoic acid (DHA) thường tìm thấy ở các loại dầu sinh vật biển (Lee et al.1: Cấu trúc của các béo quan trọng trong Omega-3 (Sửa đổi từ Kashiwag and Huang, 2012) Omega-3 là acid béo đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất hiện nay. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến việc thu nhận acid béo Omega-3 từ thực vật và động vật nhằm đáp ứng nhu cầu đang ngày càng tăng cao cho việc phòng, chữa bệnh và nâng cao sức khỏe của con người. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu thu nhận và sử dụng các acid béo không thay thế Omega-3 và Omega-6 từ nguồn tự nhiên vẫn còn quá khiêm tốn.
Hiện nay, nhu cầu sử dụng trong nước về loại acid béo này tăng lên nhanh chóng nhưng đều phải nhập khẩu hoàn toàn với giá đắt đỏ. Do vậy, với mong muốn góp phần thỏa mãn nhu cầu trong nước và nâng cao giá trị của Omega-3, nhóm nghiên cứu tiến hành đề tài “Nghiên cứu quy trình sản xuất Omega-3 từ hạt Chia, đầu cá hồi và mỡ cá tra ở quy mô phòng thí nghiệm” nhằm sử dụng phương pháp chung cho cả ba loại nguyên liệu này là thủy giải dầu mỡ để chiết tách các acid béo tự do và tủa urea để tinh sạch và làm giàu các acid béo bất bão hòa (Omega-3). Qua đó, nghiên cứu mong muốn tìm ra phương pháp trích ly Omega-3 chung cho cả động vật và thực vật ở quy mô phòng thí nghiệm tại Việt Nam.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Omega-3 trên thị trường Việt Nam vẫn là sản phẩm nhập khẩu với giá khá cao. Đặc biệt cá hồi và hạt Chia là hai nguồn nguyên liệu ngoại nhập tương đối đắt tiền và chưa có nhiều báo cáo cụ thể về phương pháp trích ly Omega-3 cũng như so sánh thành phần dinh dưỡng của loại dầu này.
Vì vậy trong phạm vi nghiên cứu này, tùy theo tính 1 Tieu luan chất nguyên liệu mà hai quy trình khác nhau đã được áp dụng để chiết dầu thô là phương pháp trích dầu thô bằng trích ly rắn lỏng dùng cho hạt Chia, phương pháp gia nhiệt kết hợp khuấy trộn ứng dụng cho đầu cá hồi và gia nhiệt gián tiếp không sử dụng dung mối cho nguyên liệu mỡ cá basa; dầu mỡ sau khi trích từ ba loại nguyên liệu sẽ được làm giàu Omega-3 bằng phương pháp thủy phân hóa học kết hợp với tủa urea. Qua đó, nghiên cứu mong muốn tìm ra phương pháp trích ly Omega-3 đơn giản quy mô phòng thí nghiệm cho ba loại nguyên liệu này, đặc biệt là đánh giá khả năng làm giàu Omega- 3 bằng phương pháp tủa urea; từ đó so sánh thành phần của Omega-3 trong các nguyên liệu này với các báo cáo trước đây. Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu quy trình sản xuất Omega-3 từ hạt Chia, đầu cá hồi và mỡ cá tra ở quy mô phòng thí nghiệm” nhằm tìm ra quy trình hoàn chỉnh để chiết tách hợp chất quan trọng này từ các nguồn nguyên liệu thực vật và động vật giàu Omega- 3 là rất cần thiết và có ý nghĩa.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Để xác định các thông số tối ưu cho quy trình trích ly Omega-3 từ mỡ cá tra, đầu cá hồi và hạt Chia ở quy mô phòng thí nghiệm và nhằm tạo ra sản phẩm mới có chất lượng cao, đề tài được thực hiện với các mục tiêu cụ thể như sau: + Xây dựng được quy trình hoàn thiện trích ly Omega-3 từ mỡ cá tra, hạt Chia, đầu cá hồi. + Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly Omega-3 từ mỡ cá tra, hạt Chia, đầu cá hồi.
+ So sánh chất lượng sản phẩm Omega-3 từ mỡ cá tra, hạt Chia, đầu cá hồi sau quá trình làm giàu Omega-3 bằng phương pháp tủa urea. 2 Tieu luan Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT BÉO 2.1 Khái niệm Chất béo (lipid) là một trong những thành phần sinh học cơ bản của động thực vật và là thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn cung cấp năng lượng cho con người cùng với các chất hữu cơ khác như protein, glucid và các vitamin. Bên cạnh đó lipid cũng đóng vai trò như một chất vận chuyển vitamin tan trong dầu và sterol. Ngoài ra trong thành phần của lipid có phospholipid và sterol ester tham gia vào quá trình sinh tổng hợp màng tế bào.
Lipid là một hợp chất hữu cơ có chức năng và thành phần hóa học khác nhau được trích ly từ động thực vật nhờ các dung môi ether, chloroform, methanol… (Lưu Hữu Mãnh et al.2 Phân loại Theo Đồng Thị Thanh Thu (2004) có nhiều kiểu phân loại lipid, về cơ sở phân loại chủ yếu có những loại sau: Dựa vào phản ứng xà phòng hóa Lipid xà phòng hóa được: Bao gồm các acylglyceride, phosphoglyceride và sáp nghĩa là những lipid mà trong phân tử có chứa ester của acid cao phân tử. Lipid không xà phòng hóa được: Tức là những lipid trong phân tử không chứa ester, nhóm này gồm các hydrocarbon, các chất màu và các sterol. Dựa vào thành phần cấu tạo Lipid đơn giản: về cấu tạo nó chỉ là ester của rượu và acid béo, không có thành phần khác tham gia. Lipid phức tạp: cũng là một ester nhưng khi thủy phân thu được ngoài thành phần chính rượu, acid béo còn có các thành phần khác như base nitơ, lưu huỳnh, glucid… 2.3 Tính chất của chất béo 2.1 Tính chất vật lý - Chất béo tan nhiều trong dung môi hữu cơ như ether, benzene, n-henxan… - Có độ nhớt khá cao.
- Chất béo nhẹ hơn nước, tỉ trọng 0,91 – 0,97. - Điểm nóng chảy của lipid không thể hiện rõ ràng, tùy thuộc vào tính chất của nguyên liệu. Khi dây acid béo càng dài, càng bão hòa thì độ nóng chảy của triglyceride càng cao, áp suất hơi kém do đó có mùi. Chất béo có cấu tạo chủ yếu là triglyceride dây ngắn thì sự thủy phân sẽ phóng thích các acid béo tự do có khối lượng phân tử nhỏ, dễ bay hơi, gây mùi khó chịu.
Đối với mỡ động vật chứa nhiều acid béo bão hòa, nhiệt độ 3 Tieu luan bình thường ở trạng thái rắn, nhất là mỡ bò, mỡ cừu. Dầu thực vật cũng tùy theo tỉ lệ giữa acid béo bão hòa và không bất bão hòa. Vì vậy dầu thực vật luôn ở trạng thái lỏng (Trần Thanh Trúc, 2005).2 Tính chất hóa học Theo tác giả Trần Thanh Trúc (2005), tính chất hóa học của chất béo chủ yếu do phản ứng của triglyceride, có tác động đáng kể đến sự thay đổi chất lượng sản phẩm. i) Phản ứng thủy phân và xà phòng hóa Trong điều kiện thích hợp, chất béo dễ bị thủy phân theo phản ứng.
RCOOH + NaOH RCOONa + H2O Phương trình tổng quát: C3H5(COOR)3 + 3NaOH 3RCOONa + C3H5(OH)3 ii) Phản ứng cộng hợp Phản ứng này có tác dụng cộng hydro vào các nối đôi trên dây carbon của acid béo với sự hiện diện của chất xúc tác thích hợp nhằm làm giảm nối đôi trên dây carbon, làm cho chất béo ổn định hơn, hạn chế được các quá trình oxy hóa, trùng hợp của chất béo. Ngoài ra, phản ứng này còn có tác dụng giữ cho chất béo không bị biến đổi mùi khi bảo quản lâu. Phản ứng này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng: đây chính là cơ sở lý thuyết cho quá trình chuyển đổi dầu từ thể lỏng sang thể rắn để sử dụng một số trường hợp đặc biệt (margarine, shoterning…). Ngoài ra, thành phần acid béo của dầu thường chứa đồng thời oleic acid, linoleic acid, linolenic acid.
Mặc dù linolenic acid có vai trò sinh học quan trọng, nhưng đó cũng là nguyên nhân chính gây nên sự biến đổi mùi của thực phẩm, vì thế quá trình hydro hóa chọn lọc để giảm bớt hàm lượng linolenic acid thường được tiến hành trong công nghệ chế biến dầu. iii) Phản ứng đồng phân hóa Dưới tác dụng của base hòa tan trong rượu sẽ xảy ra sự đồng phân hóa (theo cả hai kiểu đồng phân hình học và vị trí) các nối kép trên dây carbon, làm tăng tính khô của dầu. Sự đồng phân hóa có thể thực hiện với chất xúc tác Ni, nhiệt độ 180oC, Al2O3 tăng hoạt tính. iv) Phản ứng với rượu Đây là phản ứng cơ bản để biến triglyceride thành ester methyl của acid béo nhằm để phân tích thành phần hóa học bằng sắc ký khí.
4 Tieu luan v) Phản ứng oxy hóa Những dầu mỡ có chứa nhiều acid béo bất bão hòa sẽ dễ bị oxy hóa bởi oxy không khí. Đa số các phản ứng xảy ra trên các nối đôi của carbon. Dầu mỡ chứa nhiều acid béo bão hòa có ưu điểm dễ bảo quản, ít bị biến đổi nhưng lại có hệ số đồng hóa thấp. Từ đặc tính lý hóa nói chung của chất béo, các nghiên cứu về hiện tượng biến đổi mùi của dầu mỡ khi chúng được tồn trữ trong thời gian dài đã đưa ra hai nguyên nhân chủ yếu đến sự biến đổi này: - Sự thủy phân giải phóng acid béo từ triglyceride: Sự thủy phân này có thể xảy ra khi mạch carbon của triglyceride ngắn hoặc dưới tác dụng của enzyme lipase.
- Sự ôi dầu do phản ứng oxy hóa hóa học. Phản ứng này xảy ra dễ dàng với dây triglyceride có chứa nhiều nối kép. Nó thường bắt nguồn từ phản ứng cộng oxy vào các nối kép hay xen và 𝐶𝛼 đối với nối kép để tạo ra các hydroperoxide. Các hydroperoxide này tiếp tục bị phân hủy để cho ra các sản phẩm sau cùng như các hợp chất carbonyl, aldehyde, aceton, alcohol.
Aldehyde Cetone Chất béo + O2 hydroperoxide Acid Ester Alcohol Việc tìm ra nguyên nhân gây biến đổi mùi trong quá trình bảo quản có ý nghĩa thực tế rất quan trọng, đây chính là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm làm thay đổi đặc tính chất béo.4 Chức năng của chất béo Song song với chức năng cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động, lipid còn có chức năng khác như theo Lê Ngọc Tú et al. (1998): - Thành phần cấu trúc màng sinh học. - Nguồn năng lượng dự trữ quan trọng cung cấp cho cơ thể. - Hoạt hóa và cấu thành enzyme, hormone.
- Hỗ trợ hấp thu các lipid khác. - Vận chuyển các vitamin và một số chất khác. - Ngoài ra còn có chức năng bảo vệ cơ thể.5 Thành phần chính trong chất béo Acid béo là thành phần chính của hầu hết các lipid trong cơ thể lẫn thực phẩm.