Nghiên Cứu Quy Trình Sản Xuất Giống Và Nuôi Thương Phẩm Giun Nhiều Tơ Perinereis Nuntia

Nghiên cứu quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm giun nhiều tơ Perinereis nuntia var brevicirris phục vụ thức ăn cho tôm bố mẹ.

Trường đại học

Nha Trang University

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

177
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CỦA GIUN NHIỀU TƠ

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NUÔI GIUN NHIỀU TƠ

1.3. NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA TÔM BIỂN

1.3.1. Nhu cầu protein và năng lượng

1.3.2. Nhu cầu lipid và các axít béo thiết yếu (EFAs)

1.3.3. Các nhóm lipid khác nhau

1.3.4. Thành phần sinh hóa buồng trứng

1.3.5. Nhu cầu vitamin

1.3.6. Nhu cầu về các chất khoáng

1.4. GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA GIUN NHIỀU TƠ

1.4.1. Thành phần dinh dưỡng trong giun nhiều tơ

1.4.2. Thành phần axít amin trong giun nhiều tơ

1.4.3. Thành phần axít béo trong giun nhiều tơ

1.4.4. Thành phần khoáng và vitamin trong giun nhiều tơ

1.4.5. Giá trị dinh dưỡng của giun nhiều tơ trong nuôi trồng thủy sản

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.3. SƠ ĐỒ KHỐI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản

2.4.2. Nghiên cứu nuôi giun bố mẹ

2.4.3. Nghiên cứu ương nuôi ấu trùng

2.4.4. Nghiên cứu nuôi thương phẩm

2.4.5. Đánh giá chất lượng giun nhiều tơ trong nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ

2.4.6. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản

3.2. Mùa vụ sinh sản của giun nhiều tơ

3.3. Kích thước thành thục sinh dục lần đầu

3.4. Phân biệt giới tính, tỷ lệ đực cái

3.5. Hệ số thành thục của giun nhiều tơ

3.6. Sức sinh sản của giun nhiều tơ

3.7. Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục

3.8. Thời gian phát triển phôi

3.9. Sự phát triển của ấu trùng

3.10. Nghiên cứu nuôi giun bố mẹ

3.10.1. Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh sản của giun bố mẹ

3.10.2. Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sinh sản của giun bố mẹ

3.10.3. Thực nghiệm nuôi giun bố mẹ và cho sinh sản

3.11. Nghiên cứu ương nuôi ấu trùng

3.11.1. Ảnh hưởng của thức ăn ương nuôi ấu trùng

3.11.2. Xác định mật độ ương nuôi

3.11.3. Xác định độ mặn ương nuôi

3.11.4. Thực nghiệm ương nuôi ấu trùng giun nhiều tơ đến cỡ giống 2 cm

3.12. Nghiên cứu kỹ thuật nuôi thương phẩm

3.12.1. Xác định loại thức ăn, chế độ và khẩu phần cho ăn

3.12.2. Xác định mật độ nuôi thích hợp

3.12.3. Thực nghiệm nuôi thương phẩm

3.12.4. Đánh giá chất lượng giun nhiều tơ trong nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ

3.12.5. Phân tích thành phần sinh hóa trong giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nguồn nuôi thương phẩm

3.12.6. Đánh giá chất lượng giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nguồn nuôi thương phẩm trong nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Giun Nhiều Tơ Perinereis Nuntia 55 ký tự

Ngành nuôi tôm, bao gồm tôm sú và tôm chân trắng, đóng vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề "an toàn sinh học" trong sản xuất giống tôm đang được quan tâm do lo ngại về mầm bệnh từ nguồn giun nhiều tơ Perinereis nuntia tự nhiên. Nhu cầu về nguồn thức ăn chất lượng cao, an toàn sinh học cho nuôi tôm bố mẹ là rất lớn. Giun nhiều tơ (Perinereis sp.) được sử dụng rộng rãi làm thức ăn sống cho tôm bố mẹ, giúp nâng cao mức độ thành thục, chất lượng trứng và tinh trùng. Hầu hết các trại sản xuất giống đều sử dụng giun nhiều tơ làm thức ăn, phổ biến nhất là giun cát (Perinereis sp.). Một trong những lý do là giun nhiều tơ chứa hàm lượng PUFA cao, thích hợp cho phát triển buồng trứng của tôm biển (Techaprempreecha và cộng sự, 2011; Limsuwatthanathamrong và cộng sự, 2012).

1.1. Giá Trị Dinh Dưỡng Của Giun Nhiều Tơ Perinereis Nuntia

Giun nhiều tơ Perinereis nuntia (giun omega) chứa hàm lượng PUFA cao (Harrison, 1991), thích hợp cho phát triển buồng trứng của tôm biển (Techaprempreecha và cộng sự, 2011; Limsuwatthanathamrong và cộng sự, 2012). Hàm lượng các axít béo HUFA và các phospholipid chiếm tỷ lệ cao trong thịt giun. Các axít béo chưa no đa nối đôi, đặc biệt DHA và EPA chiếm ưu thế trong màng tế bào trứng. Axít arachidonic chiếm tỷ lệ cao trong buồng trứng tôm mẹ, cũng có nhiều trong thịt giun nhiều tơ. Phospholipids, chủ yếu gồm phosphatidylcholine và phosphatidylethanolamine có trong thịt giun được xem là thành phần tối quan trọng và cần được bổ sung ít nhất 2% trong thức ăn cho nuôi tôm phát dục (Cahu và cộng sự, 1994; Ravid và cộng sự, 1999; Wouters và cộng sự, 1999b).

1.2. Ứng Dụng Giun Nhiều Tơ Trong Nuôi Tôm Bố Mẹ

Tôm bố mẹ sử dụng chế độ cho ăn bằng giun cát sẽ tăng sức sinh sản và tỷ lệ nở của trứng tốt hơn khi so sánh với chế độ cho ăn bằng thức ăn thương mại khác (Millamena và Pascual, 1990). Tôm sú bố mẹ sử dụng thức ăn (giun nhiều tơ) có bổ sung 2% DHA có tác dụng tích cực đến sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, thời gian và tỷ lệ chuyển giai đoạn của ấu trùng tôm. Chất lượng tinh trùng của tôm đực cũng tốt hơn khi cho tôm đực sử dụng thức ăn đã được làm giàu bằng DHA (Trương Hà Phương và cộng sự, 2016). Tương tự như tôm sú bố mẹ, khi bổ sung 2% DHA vào thức ăn (giun nhiều tơ) nuôi vỗ thành thục tôm chân trắng cũng cho kết quả tốt hơn.

II. Thách Thức Trong Sản Xuất Giống Giun Nhiều Tơ 58 ký tự

Việc sử dụng nguồn giun nhiều tơ tự nhiên tiềm ẩn nhiều rủi ro về an toàn sinh học, đặc biệt là các bệnh như đốm trắng (WSSV), hoại tử gan tụy cấp (AHPND) và vi bào tử trùng (EHP). Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tôm bố mẹ và con giống. Do đó, việc phát triển quy trình sản xuất giốngnuôi thương phẩm giun nhiều tơ Perinereis nuntia là cần thiết để chủ động nguồn thức ăn an toàn, giàu dinh dưỡng cho tôm bố mẹ. Việc đánh bắt giun biển tự nhiên cũng gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái và cần có giải pháp thay thế bền vững.

2.1. Nguy Cơ Từ Giun Nhiều Tơ Tự Nhiên

Hiện nay vấn đề “an toàn sinh học” là một trong những mối quan tâm của người sản xuất giống tôm vì lo ngại khi sử dụng nguồn giun nhiều tơ ngoài tự nhiên mà không kiểm soát được mầm bệnh như bệnh đốm trắng (WSSV) (Vijayan và cộng sự, 2005), bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND), bệnh vi bào tử trùng (EHP) (Thitamadee và cộng sự, 2016) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tôm bố mẹ và con giống.

2.2. Sự Cần Thiết Của Quy Trình Sản Xuất Giống

Để phát triển nuôi giun nhiều tơ cung cấp cho các trại sản xuất tôm giống cần có những nghiên cứu, đánh giá đầy đủ về đặc điểm sinh học sinh sản của đối tượng này. Nghiên cứu sản xuất giốngnuôi thương phẩm giun nhiều tơ góp phần cung cấp nguồn thức ăn sống, giàu dinh dưỡng và ưa thích cho tôm bố mẹ. Đồng thời chủ động nguồn thức ăn (có giá trị cao và an toàn sinh học) cho tôm bố mẹ, giảm thiểu việc đánh bắt nguồn giun tự nhiên, góp phần nâng cao chất lượng chất lượng tôm giống, phát triển bền vững nghề nuôi tôm công nghiệp ở Việt Nam.

III. Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Học Sinh Sản Giun Nhiều Tơ 60 ký tự

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của giun nhiều tơ Perinereis nuntia rất quan trọng cho việc xây dựng quy trình sản xuất giống hiệu quả. Các yếu tố như mùa vụ sinh sản, kích thước thành thục, tỷ lệ đực cái, sức sinh sản và các giai đoạn phát triển phôi ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng giun giống. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp tối ưu hóa kỹ thuật nuôi giun nhiều tơ và nâng cao hiệu quả kinh tế.

3.1. Mùa Vụ Sinh Sản Của Giun Nhiều Tơ

Mùa vụ sinh sản của giun nhiều tơ quanh năm nhưng tập trung cao nhất từ tháng 9 đến tháng 10 hàng năm. Đây là thông tin quan trọng để lập kế hoạch sản xuất giống và đảm bảo nguồn cung giun giống ổn định.

3.2. Kích Thước Thành Thục Và Tỷ Lệ Đực Cái

Giun nhiều tơ cái màu xanh thẫm, giun đực màu trắng đục, kích thước thành thục lần đầu trung bình là 190 đốt cơ thể. Tỷ lệ đực, cái trung bình là 1:2. Hệ số thành thục của giun nhiều tơ trung bình lớn hơn 30%.

IV. Giải Pháp Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Giun Nhiều Tơ 59 ký tự

Để sản xuất giống giun nhiều tơ Perinereis nuntia thành công, cần tối ưu hóa các yếu tố như thức ăn cho giun bố mẹ, mật độ nuôi và điều kiện ương nuôi ấu trùng. Việc sử dụng thức ăn phù hợp, mật độ nuôi thích hợp và tạo điều kiện môi trường tối ưu giúp tăng tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và sức sinh sản của giun nhiều tơ.

4.1. Tối Ưu Thức Ăn Cho Giun Bố Mẹ

Giun bố mẹ sử dụng thức ăn NRD và nuôi ở mật độ 1.500 con/m2 có khối lượng tăng trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ thành thục, sức sinh sản tuyệt đối và tương đối, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của ấu trùng 5 ngày tuổi đạt cao nhất.

4.2. Ương Nuôi Ấu Trùng Giun Nhiều Tơ

Ương nuôi ấu trùng giun nhiều tơ giai đoạn trôi nổi sử dụng thức ăn kết hợp giữa tảo Nanochloropsis oculata và tảo Chaetoceros calcitrans (60% + 40%), mật độ 125 con/lít ở độ mặn 30‰ đạt tỷ lệ sống tốt nhất. Ương nuôi ấu trùng giun nhiều tơ giai đoạn xuống đáy sử dụng thức ăn tổng hợp (70%) kết hợp bột cá (30%), mật độ 35.000 con/m2 ở độ mặn 30‰ đạt tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao nhất.

V. Kỹ Thuật Nuôi Thương Phẩm Giun Nhiều Tơ Perinereis 58 ký tự

Nuôi thương phẩm giun nhiều tơ Perinereis nuntia đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc và quản lý chặt chẽ để đạt năng suất cao và chất lượng tốt. Các yếu tố quan trọng bao gồm lựa chọn thức ăn, chế độ cho ăn, mật độ nuôi và kiểm soát môi trường. Áp dụng đúng kỹ thuật giúp tối ưu hóa chi phí và nâng cao lợi nhuận.

5.1. Xác Định Thức Ăn Và Chế Độ Cho Ăn

Sử dụng thức ăn công nghiệp với chế độ cho ăn 2 lần và 3 lần/ngày với khẩu phần 2% khối lượng thân/ngày và mật độ nuôi 2.500 con/m2 cho tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống tốt nhất và tỷ lệ phân đàn, hệ số tiêu tốn thức ăn thấp nhất.

5.2. Kiểm Soát Các Yếu Tố Môi Trường Nuôi

Kiểm soát chặt chẽ các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, pH và oxy hòa tan giúp duy trì môi trường sống lý tưởng cho giun nhiều tơ, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và tăng năng suất.

VI. Đánh Giá Chất Lượng Giun Nhiều Tơ Nuôi Thương Phẩm 56 ký tự

Việc đánh giá chất lượng giun nhiều tơ nuôi thương phẩm là bước quan trọng để đảm bảo hiệu quả sử dụng làm thức ăn cho tôm bố mẹ. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm thành phần dinh dưỡng, hàm lượng protein, chất béo và các axit béo thiết yếu. Giun nhiều tơ có chất lượng tốt sẽ giúp cải thiện sức sinh sản và chất lượng trứng của tôm bố mẹ.

6.1. Phân Tích Thành Phần Dinh Dưỡng

Hàm lượng protein, chất béo và các axít béo trong mẫu giun nuôi thương phẩm cao hơn mẫu thu ngoài tự nhiên. Giun nhiều tơ P. brevicirris nuôi thương phẩm có hàm lượng dinh dưỡng và axít chưa bão hòa cao đáp ứng tốt cho tôm bố mẹ thành thục sinh dục.

6.2. Ứng Dụng Trong Nuôi Vỗ Tôm Bố Mẹ

Nghiên cứu đã xác định được giun nhiều tơ P. brevicirris nuôi thương phẩm có hàm lượng dinh dưỡng và axít chưa bão hòa cao đáp ứng tốt cho tôm bố mẹ thành thục sinh dục.

04/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CỦA GIUN NHIỀU TƠ 1.1 Đặc điểm sinh học sinh sản giun nhiều tơ 1.1 Vị trí phân loại Giun nhiều tơ loài Perinereis nuntia var. brevicirris (Grube, 1857) theo Ruppert và cộng sự (1994) được phân loại như sau: Ngành giun đốt: Annelida Phân nghành giun đốt: Cheliceriformes Lớp giun nhiều tơ: Polychaeta Phân lớp giun nhiều tơ di động: Errantia Bộ: Phyllodocia Họ: Nereidae Phân họ: Nereididae Giống: Perinereis Luận văn thạc sĩ khoa học Loài: Perinereis nuntia var. brevicirris (Grube, 1857) Tên tiếng Anh: sandworm Tên tiếng Việt: giun cát, dời cát, trùn cát, trùn biển Hình 1.1: Giun niều tơ Perinereis nuntia var.

brevicirris (Grube, 1857) Giun nhiều tơ (Polychaeta) ở Việt Nam được xác định có khoảng 700 loài (Thái Trần Bái, 1970), Trong đó, giun cát Perinereis nuntia var. brevicirris là một trong những loài phân bố rộng và phổ biến. Những nghiên cứu đầu tiên chủ yếu tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái và phân loại (Paik, 1972). Nghiên cứu của Paik (1975) cho thấy có sự sai 4 khác về hình thái giữa 2 loài P.

vallata ở các phân đoạn hầu.2 Đặc điểm phân bố Giun nhiều tơ phân bố rộng và có thể sống trong khoảng biến thiên nhiệt độ và độ sâu lớn (Rouse và Fauchald, 1997). brevicirris phân bố tại nhiều khu vực trên thế giới như: Nhật Bản, Úc, New-Caledonia, Malaysia, Ấn Độ Dương, biển Hồng Hải, Saint Paul Island, Nicobar Island, và Việt Nam (Paik, 1972). Ở Việt Nam, chúng được tìm thấy ở vịnh Bắc Bộ, Khánh Hòa (Gurjanova, 1972). Nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng và cộng sự (2011) cho thấy giun nhiều tơ phân bố rải rác tại các vùng biển có chất đáy cát sỏi thuộc 3 tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Phú Yên.

Giun nhiều tơ phân bố từ vùng triều đến độ sâu 800 m, tập trung chủ yếu ở vùng ven bờ. Trong đó, một số loài hay gặp ở vùng nước lợ như rươi Tylorhynchus heterochaetus. Phần lớn giun nhiều tơ phân bố vùng đáy các thủy vực, chúng thường chui rúc trong bùn, cát (Bessie, 1996) hay sống bò trên bề mặt đáy, sống xen trong rong tảo và trong vỏ động vật thân mềm như vỏ trai, sò. Loài Terebellides stroenii phân bố rộng trên nhiều đại dương ở độ sâu 0 – Luận văn thạc sĩ khoa học 2.400 m, là loài rộng muối, có thể sống ở nền đáy là bùn, cát, sỏi và sét.

Loài Arenicola spp. phân bố rộng từ vùng trung triều tới vùng hạ triều có đáy cát và bùn pha cát hay trong các lớp trầm tích ở vùng cửa sông, loài Marphysa mossambica phân bố chủ yếu ở vùng trung và hạ triều nơi có chất đáy bùn với lượng mùn bã hữu cơ cao (Creaser và Clifford, 1982), nơi có độ sâu 25 cm (Pettibone, 1963). Tuy nhiên, có loài lại phân bố hẹp thuộc giống Macellicephala, Saetmatomice, v. chỉ sống ở đáy đại dương, loài Enuphis conchyleya sống trong vỏ trai ốc hay đá.

Các loài giun nhiều tơ sống đáy gồm có nhóm sống định cư trong tổ và nhóm có khả năng di động (Paik, 1972).3 Đặc điểm hình thái Cơ thể giun nhiều tơ gồm nhiều đốt, giun trưởng thành có số đốt dao động từ 170 - 210 đốt, chiều dài dao động 19 – 25 cm (Thái Trần Bái, 1970). Loài giun cát chiều dài từ 8 -10 cm, chiều rộng 0,5 – 0,6 cm và có từ 104 – 122 đốt (Paik, 1972). Phần trước của giun nhiều tơ hầu lộn ra ngoài, đưa hàm kitin hình móc có răng ở phía trong ra ngoài để nghiền hay gặm thức ăn (Rouse, 2000). Trong điều kiện bình thường, hàm kitin nằm giữa xoang trước hầu và hầu.

Bề mặt của phần trước hầu được phủ kitin và có nhiều núm lồi. 5 Phần thân giun gồm có nhiều đốt, các đốt đều ngắn, mỗi đốt thân mang một đôi chi bên. Mỗi chi bên là thành lồi cơ thể và phân thành 2 thùy (thùy lưng và thùy bụng). Trên thùy lưng có sợi lưng, chùm tơ lưng.

Trên thùy bụng có sợi bụng, chùm tơ bụng. Trong các chùm tơ, bên cạnh các tơ nhỏ thẳng màu đen có một tơ hình que, lớn hơn, được gọi là tơ trụ. Nhờ có các chùm tơ ở chi bên mà giun có thể bơi hay bò trên nền đáy (Rupert và Barnes, 1994).4 Đặc điểm dinh dưỡng Giun nhiều tơ sống cố định thường ăn các mùn bã hữu cơ theo lối ăn lọc nên phát triển phần đầu còn các chi bên của thân thì biến thành cơ quan bám vào tổ. Giun nhiều tơ di động thường ăn thức ăn là động vật hay thực vật, một số ăn tạp và các cá thể của nhóm này thường phát triển về giác quan và chi bên.

Được xếp vào nhóm giun nhiều tơ di động, loài giun cát rất phát triển về giác quan và chi bên. Thức ăn của chúng thường là rong, đặc biệt là xác động vật và chất thải từ hệ thống nuôi tôm cá, thậm chí cát cũng được tìm thấy trong hệ tiêu hóa (Brown và cộng sự, 2011). Giun cát di chuyển trong cát và trồi lên bắt mồi khi sóng mang đến, giun thường bắt mồi qua 2 hình thức trực tiếp và gián tiếp. Khi bắt mồi trực tiếp, phần lớn lượng thức ăn vào cơ Luận văn thạc sĩ khoa học thể từ hình thức ăn lọc.

Bắt mồi gián tiếp là sự chọn lọc thức ăn phù hợp thông qua râu và lông cứng (Rouse, 2000). Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng và cộng sự (2011), thành phần thức ăn trong hệ tiêu hóa của giun nhiều tơ gồm 60% động vật và 40% thực vật (rong tảo).5 Đặc điểm sinh sản Giới tính Hệ sinh dục của giun nhiều tơ có cấu tạo khá đơn giản, bao gồm tuyến sinh dục bám từng đôi trên thành cơ thể ở tất cả các đốt hay chỉ có ở một số đốt, có ống dẫn hay không có ống dẫn sinh dục riêng biệt (như họ Capitellidae) (Thái Trần Bái, 1970). Các tế bào sinh dục chín thường nằm ngay trong dịch thể xoang, và vào mùa sinh sản chúng được giải phóng vào nước để thụ tinh. Những loài không có ống dẫn sinh dục, tế bào sinh dục chỉ được giải phóng sau khi thành cơ thể bị vỡ.

Giun nhiều tơ là loài phân tính, cả con đực và cái đều phát triển phần sinh sản (epitoque) khi thành thục (Bessie, 1996). Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục Kết quả phân tích mô học của Dales (1950) cho thấy sự thay đổi thành phần thức ăn ảnh hưởng tới tỷ lệ cá thể có tuyến sinh dục phát triển khác nhau. Những cá thể 6 được cung cấp thức ăn có hàm lượng protein thấp hơn thời gian thành thục kéo dài hơn. Quá trình thành thục của giun nhiều tơ trải qua 4 giai đoạn phát triển (Bessie, 1996).

 Các giai đoạn phát triển thành thục sinh dục của cá thể cái Giai đoạn I: Cơ thể giun nhỏ và có màu nâu nhạt. Noãn bào có kích thước rất nhỏ từ 40 - 80 µm. Giai đoạn II: Cơ thể giun có màu đỏ, có sự gia tăng về kích thước và khối lượng cơ thể, đường kính noãn bào từ 80 - 120 µm. Giai đoạn III: Cơ thể bắt đầu có sự thay đổi rõ rệt cả về khối lượng cơ thể và tuyến sinh dục.

Noãn bào lúc này có đường kính 120 - 160 µm. Cơ thể giun chuyển sang màu hồng và đỏ cam. Giai đoạn IV: Kết thúc quá trình phát triển tuyến sinh dục, hình thái ngoài rất dễ phân biệt với các giai đoạn khác. Màu sắc cơ thể giun chuyển sang màu xanh thẫm.

Đường kính trứng 160 - 200 µm.  Các giai đoạn phát triển thành thục sinh dục của cá thể đực Giai đoạn I: Cơ thể giun có màu hồng nhạt, tinh bào chứa trong túi tinh với kích thước rất nhỏ. Luận văn Giai đoạn II: Mắt giun cóthạc sự thay đổi, sĩ khoa kích thước học túi tinh tăng lên, số lượng tinh bào cũng gia tăng, màu của cơ thể bắt đầu chuyển dần sang đỏ. Chân bơi và các lông cứng bắt đầu có thay đổi và dài ra.

Giai đoạn III: Màu sắc bên ngoài của giun chuyển sang đỏ tươi. Các đốt bắt đầu co lại, các thùy của chân bên phát triển phiến mỏng và to lên. Các thùy trước miệng thu ngắn lại. Giai đoạn IV: Tinh trùng được giải phóng trong dịch thể xoang và hầu hết tập trung ở phần đầu làm phần này có màu trắng và phần còn lại màu đỏ tươi.

Mắt to và sát lại gần nhau. Mùa vụ sinh sản Theo nhiều nghiên cứu, mùa vụ sinh sản của các loài giun nhiều tơ có sự khác nhau giữa các vùng địa lý. Klawe và cộng sự (1957) cho rẳng mùa vụ sinh sản của giun huyết Glycera dibranchiate vào giữa tháng 5 ở vịnh Goose, cuối tháng 6 ở vùng biển Maine (Creaser, 1982) và ở vùng biển Nova Scotia giun đẻ vào tháng 5 và 6. Nghiên cứu của Kristensen (1984) cho thấy nhiệt độ tăng hoặc giảm ở các vùng địa lý ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của giun cát Nereis diversicolor.

Ở Norsminde 7 Fjord, Đan Mạch chúng sinh sản từ tháng 2 - 4, ở Anh vào tháng 5 (Mettam và cộng sự, 1982) và ở Pháp chúng sinh sản quanh năm (Herpin, 2005). Thời gian tuần trăng được xác định là yếu tố tác động đến quá trình sinh sản của loài Nereis succinea (Bishop, 1974). Chúng thường sinh sản quanh tuần trăng non, sau khi mặt trời lặn trong suốt tháng 6 – 9. brevicirris ở kênh đào Suez sinh sản vào mùa xuân (Inas và cộng sự, 2003), ở Malaysia sinh sản kéo dài từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau (Bessie, 1996).

Theo Sato và Nakashima (2003), mùa vụ sinh sản của loài Hediste japonica và H. diadroma từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Loài giun cát Nereis virens Sar sinh sản trong tháng 4 và tháng 5, sau tuần trăng khi con nước lớn và nhiệt độ của nước tăng/giảm 6 – 8 oC (Creaser và cộng sự, 1982). Tập tính và hình thức sinh sản Phần lớn giun nhiều tơ di cư sinh sản khi chưa phân biệt giới tính và thường bắt đầu khi thủy triều lên.

Sau khoảng 3 - 4 tháng, số lượng cá thể cái trong quần đàn tăng lên, tuyến sinh dục chín mùi và bắt đầu quá trình sinh sản. Các cá thể đực và cái bơi lên mặt nước vào lúc trăng non và trăng tròn (Hardege và Bartels-Hardege, 1995) để bắt đầu quá trình sinh sản, trứng và tinh trùng sẽ được phóng qua lỗ sinh dục hoặc thành cơ thể (Hardege và Bartels-Hardege, 1995). Loài giun cát Nereis virens sar, khi Luận văn thạc sĩ khoa học sinh sản cả cá thể cái và đực bơi lên bề mặt trong suốt thời gian tuần trăng (Bass và Brafield, 1972; Creaser và cộng sự, 1982). Giun cái và đực chết sau khi kết thúc quá trình sinh sản (Bessie, 1996; Chatelain và cộng sự, 2008).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ