Đặt vấn đề Khổ qua hay lương qua là loại dây leo có tên khoa học là Momordica charantia L. - đây là loại thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam (Đỗ Tắt Lợi, 2013). Loài cây này được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới châu Á, Amazon, phía đông Châu Phi và Caribe (Yesilada va ctv, 1999; Satyawati va ctv, 1987). Theo đông y, khổ qua có vi đắng (khổ), tinh han, không độc.
Qua có chứa hoạt chất tạo VỊ đẳng gọi là momocdixin, hạt có chứa dầu. Trái khổ qua được dùng đề chữa một số bệnh như đái tháo đường, loét dạ dày, mụn nhọt, giải nhiệt, sáng mắt, giảm đau,. và một số bệnh khác (Đã Huy Bích và ctv, 2003). Ngoài việc sử dụng làm thuốc và thức ăn, các sản phâm chế biến từ khổ qua đã được nghiên cứu sản xuất bao gồm xà phòng, mỹ phẩm, trà, thực phâm chức nang,.
nhằm đáp ứng nhu cau làm đẹp, sức khỏe của người sử dụng. Tại Châu Á diện tích trồng khổ qua đạt 340 nghìn ha và tập trung chủ yếu tại Ấn Độ và Trung Quốc. Sản lượng khổ qua tại Việt Nam chiếm 6% trong khu vực (Reyes, 2014)và được trồng ở hầu hết các tỉnh từ đồng bằng đến trung du với năng suất trung bình dat 16,0 tan/ha (Nguyễn Quốc Hùng và ctv, 2016). Hiện nay, thịt quả là bộ phận được sử dụng chủ yếu còn các bộ phận khác như hạt sẽ bỏ đi gây lãng phí và ô nhiễm môi trường.
Airan và ctv (1942) đã chứng minh hạt mướp đắng giàu dầu, với hàm lượng từ 10-35%, có thể tận dụng cho nhiều mục đích khác nhau với các đặc tính có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, hiện nay rat it nghiên cứu tận dung phụ phẩm hạt khổ qua dé chiết xuất dầu cũng như nghiên cứu xác định thành phan và các tính chất của dau hạt khổ qua. Hạt mướp đắng được chứng minh rất giàu hàm lượng acid béo a — eleostearic (Yoshime va ctv, 2016) - một acid béo linolenic liên hợp có nhiều lợi ích sức khỏe bao gồm tác dụng chống oxy hóa, chống viêm, chống béo phì, chống khối u và hỗ trợ điều trị tiểu đường (Alam và ctv, 2015). Do vậy, loại phụ phẩm này nếu được xử lý, tận dụng sẽ góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường và tăng giá trị kinh tế cho khổ qua, từ đó đề tài “ Ly trích dầu từ hạt khổ qua Momordica charantia L.” được thực hiện.
Mục tiêu của đề tài Mục đích của nghiên cứu này là xác định thành phần hóa thực vật của hạt khổ qua được trồng tại Long An (Việt Nam) và khảo sát phương pháp tách chiết đầu phù hợp, đơn giản đồng thời đánh giá sợ bộ chất lượng của dầu hạt thu được. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Xác định thành phan hóa thực vật của hạt khô qua. Nội dung 2: Khao sát quy trình ly trích dầu từ hạt khổ qua. Nội dung 3: Đánh giá chất lượng dầu hạt khổ qua.
Tống quan về cây mướp đắng Momordica charantia L. có tên tiếng Việt là khô qua, mướp đắng, câm lệ chi, lại bồ đào, chua hao (Mường - Thanh Hóa). Ở Việt Nam, ngoài công dụng làm thức ăn, mướp đẳng còn được dùng làm một vi thuốc mát chữa ho, tắm cho trẻ trị rôm say, chữa sốt (Đỗ Tat Loi, 2013). Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Cucurbitales Họ: Cucurbitaceae Chỉ: Momordica Loài: M.
Cây khô qua. Tên khoa học: Momordica charantia L. (Nguôn: Hình chụp tại vườn) Theo miêu tả của Đỗ Tat Lợi trong sách “Cây thuốc và những vị thuốc Việt Nam” thì khổ qua là một loại dây leo, thân có góc cạnh, lá mọc so le, dài 5 — 10 cm, rộng 4 — 8 cm, phiến lá chia 5 — 7 thuỳ hình trứng, mép có răng cưa đều, mặt dưới lá màu nhạt hơn mặt trên, trên gân lá có lông ngắn. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, đực cái cùng gốc, có cuống dài, cánh hoa màu vàng nhạt, đường kính của hoa khoảng 2 cm.
Quả hình thoi dài 8 — 15 cm, trên mặt có nhiều u nổi lên, quả chưa chín có màu vàng xanh, khi chín có màu vàng hồng, trong quả có hạt det dai 13 — 15 mm, rộng 7 — 8 mm, gần giống hạt bí ngô, quanh hạt có màng màu đỏ máu như màng gắc. Mùa quả rơi vào các tháng 5 — 6 — 7 đương lịch. Khổ qua thường mọc ở Việt Nam, nam Trung Quôc và một sô nước đông nam Chau A. Theo Trần Nam Hưng (1998), ở Trung Quốc, khổ qua còn sử dụng để trị đột quy, sốt, khô miệng, viêm họng.
Ở Ấn Độ, dịch quả khổ qua còn được dùng để trị rắn cắn, hàn các vết thương, trị vết loét ác tính. Ngoài thịt quả thì hạt khổ qua cũng được sử dụng làm thực pham và thuốc vì có các đặc tính tăng cường sức khỏe khác nhau (Gölũkcũ va ctv, 2014; Moronkola và ctv, 2009). Hạt chữa vết thương nhiễm trùng , đau họng, hạ huyết áp và kháng virus HIV (Võ Văn Chi, 1999: Bùi Chí Hiếu, 1999). Tông quan về thành phần dinh dưỡng của cây khổ qua Khổ qua có chứa nhiều các hợp chất thứ cấp mang hoạt tính sinh học như alkaloid, polypeptide, vitamin và khoáng chất.
Theo Bakare và ctv (2010), khổ qua chứa 91,8% nước; 0,2% chất béo; 4,2% carbohydrate và 1,4% chất xơ. Momordicine và charantin là hai hoạt chất chủ yếu gây ra vị đắng của của khổ qua. Momordicin là hỗn hợp charantin, protein, adenin, betanin, vitamin B, C. là một glucozid đắng giúp cơ thể chống lại các tế bào ung thư.
Hợp chất saponin là một dạng như insulin có tác dụng điều hoà đường huyết trong máu một cách từ từ nên rất an toàn cho người bệnh (Grover và ctv, 2004). Hàm lượng lipid, protein và tro của quả được xác định lần lượt là 93,20%; 0,76%; 18,20% và 8,12% (tính theo chất khô). Ngoài ra, hàm lượng đồng, sắt, magie, kẽm và canxi trong qua đạt 3,54 mg/100g; 5,97 mg/100g; 119,92 mg/100g; 3,53 mg/100g va 137,69 mg/kg (Yuwai và ctv, 1991). Tổng quan về thành phan dầu của hat khé qua Hạt khổ qua giàu dầu, với hàm lượng 35% (Airan và ctv, 1942), cao hơn so với hàm lượng có trong nhiều nguồn thực vật khác (Amoo và ctv, 2006; Akubugwo và ctv, 2007; Daramola và ctv, 2007; Stevenson và ctv, 2007).
Hạt khô qua chứa 3,33% acid béo không bão hòa đơn (Monounsaturated Fatty Acid - MUFA) và 36,71% acid béo bão hòa (SFA - Saturated Fatty Acid). Luong acid béo không bão hòa đa (PUFA - Polyunsaturated Fatty Acid) lớn nhất (59,96%) (Liu và ctv, 2010). Ali và ctv (2008) đã thực hiện một nghiên cứu dé xác định thành phan hóa học và thành phần acid béo của ba loại dầu hạt khổ qua khác nhau. Độ am của hạt dao động từ 7,62 đến 8,20%; dau từ 33,93 đến 36,21%; protein va carbohydrate tổng số lần lượt từ 18,23 đến 21,36% và từ 32,51 đến 35,52%.
Trong hạt có chứa hàm lượng hợp chất thứ cấp như: canxi (383,45 — 440,96 mg/kg), đồng (2,85 — 3,52 mg/kg), sắt (41,10 — 45,03 mg/kg), kẽm ( 12,41 — 4 13,47 mg/kg) và phốt pho (134,65 — 142,39 mg/kg). Acid béo chính của dầu được xác định là ơ-eleostearic acid và hàm lượng chiếm từ 50,36 — 53,22%. Theo sau là hàm lượng acid stearic (20,21 — 24,20%), oleic (15,26 — 16,01% ) va linoleic (4,81 — 6,98%). Tong quan các hợp chat trong hạt khổ qua 2.
Saponin Saponin là các hợp chất glycoside steroid hoặc triterpene được tìm thấy trong nhiều loại thực vật được chứng minh có nhiều lợi ích tốt cho sức khỏe như có khả năng chống béo phì bằng cách ức chế enzym lipase tuyến tụy (Han và ctv, 2000), hạ đường huyết bằng các hoạt động như phục hồi phản ứng insulin, tăng nồng độ insulin trong huyết tương và kích thích giải phóng insulin từ tuyến tụy. Acid saponin platyconic, được phan lập từ rễ Platycodi, đã được chứng minh làm tăng sự hấp thu glucose do insulin kích thích trong các tế bào mỡ 3T3-L1, trong khi acid arjunolic, có trong cây thuộc họ Trâm bau và các loài khác, cho thấy hoạt động ức chế a-amylase và a-glucosidase (Elekofehinti va ctv, 2015). Saponin được nghiên cứu về các đặc tinh hạ đường huyết với mục đích tìm ra các loại thuốc hiệu quả mới trong điều trị đái tháo đường. Ngoài ra, saponin còn là hợp chất có khả năng tạo bọt ổn định giống như xà phòng trong nước (Francis và ctv, 2002).
Nhờ đặc tính này, saponin được sử dụng làm chất hoạt động bề mặt tự nhiên trong các sản phẩm tây rửa chăm sóc cá nhân, chang hạn như sữa tắm tạo bọt, xà phòng lỏng, dầu gội đầu và kem đánh răng. Polyphenol Polyphenol hay hợp chất phenolic là các hợp chất mà trong cấu trúc của chúng có ít nhất một vòng phenyl mang một hay nhiều nhóm chức hydroxyl (—OH). Polyphenol có nhiều lợi ích cho sức khỏe vì khả năng chống oxy hóa cao thông qua hạn chế sự hình thành các gốc tự do, tăng cường sức đề kháng, hạn chế sự phát triển của các tế bào ung thư; chống các tia phóng xạ. Ngoài ra, đặc tính sinh học quan trọng của polyphenol là các hoạt động chống viêm, chống ung thư và chống vi khuẩn (Mongkolsilp, 2004).
Flavonoid Flavonoid là các hợp chất polyphenol có trong hầu hết các loại thực vật. Theo cấu trúc hóa học, khoảng 6000 flavonoid đã được xác định và phân loại thành flavanol, flavanon, flavon, isoflavon, catechin, anthocyanin, proanthocyanidins. Tác dụng có lợi của flavonoid đối với sức khỏe con người chủ yêu nằm trong hoạt động chống oxy hóa mạnh (Miller, 1996). Theo Phan Quốc Kinh (2011), các chất flavonoid là những chất oxy hóa chậm hay ngăn chặn quá trình oxy hóa do các gốc tự do (có thé là nguyên nhân làm cho tế bào hoạt động khác thường).
Các gốc tự do sinh ra trong quá trình trao đổi chất thường là các gốc tự do như OH», ROO: (là các yếu tố gây biến dị, huỷ hoại tế bào, ung thư, tăng nhanh sự lão hoá,. Flavonoid được chứng minh có hoạt tính kháng vi rút cúm (Rakers va ctv, 2014), vi rút gây bệnh ở chó (Carvalho và ctv, 2013) và vi rút viêm gan C (Shibata và ctv, 2014). Ngoài ra, flavonoid còn thê hiện tính gây độc tế bao cụ thé đối với tế bào ung thư, có tiềm năng làm các chất kìm hãm loại tế bào này (Zhang và ctv, 2014). Tannin Tannin (thường được gọi là acid tannic) là các polyphenol tan trong nước có trong nhiều loại thực phẩm thực vật.
Theo Chung (1998), tannin tăng tốc độ đông máu, giảm huyết áp, giảm mức lipid huyết thanh, tạo hoại tử gan và điều chỉnh các phản ứng miễn dịch. Ngoài ra, tannin có các tác dụng phụ như có thé gây ung thư, hoạt động kháng dinh dưỡng, và các tác dụng phụ khác nên không khuyến khích ăn một lượng lớn tanin.