CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUỐC HỘI HOA KỲ 1. CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI Lục địa châu Mỹ được các nhà thám hiểm hàng hải người châu Âu, đặc biệt là Christophe Colombus, người Ý, khám phá từ cuối thế kỷ 15. Trước đó, thổ dân của vùng đất mênh mông hoang dã này là giống người "da đỏ", tổng số không quá vài chục vạn, thuộc nhiều bộ lạc biệt lập, sống bằng nghề trồng tỉa, hái lượm, đánh cá và săn bắn thô sơ, thích nghi với việc khai thác nguồn lợi thiên nhiên. "Căn cứ vào kết qủa nghiên cứu của các nhà nhân chủng học, khảo cổ học, sử học thì người da đỏ vốn từ châu Á thiên di sang khoảng 25.
Họ vượt qua eo biển Bering và Alatka, rồi từ đó tràn vào Bắc Mỹ" [60;40]. Những bộ lạc người da đỏ đã sống trên những vùng phì nhiêu ở Bắc Mỹ, họ đã trải qua những thời kỳ phát triển với những trình độ khác nhau. Nhưng nói chung, họ còn sống đang trong giai đoạn bộ lạc, đất đai sở hữu chung. Việc bầu cử dân chủ công bằng đã tuyển lựa những thủ lĩnh có tài và khả năng đoàn kết bộ lạc chống lại sự xâm lược của những kẻ đến cướp bóc.
Vùng đất Bắc Mỹ khi đó bị coi như vùng đất vô chủ nên các nước thực dân châu Âu tìm cách xâm chiếm: + Người Tây Ban Nha là thực dân đầu tiên đặt chân đến Bắc Mỹ, đầu tiên họ đến Phloriđa và giữa thế kỷ 16, họ đi sâu vào lục địa châu Mỹ qua Carolina tiến đến bờ sông Mitxixipi rồi sau đó vào vùng Techdat năm 1635. + Đầu thế kỷ 16, người Pháp bắt đầu xâm lược vùng đất này. Họ xây dựng cơ sở ở Canađa, và năm 1540, đặt thương điếm đầu tiên bên bờ sông Hutson. Sau đó tiến vào vùng đất thuộc tiểu bang New York (ngày nay), thành lập vùng đất Ludiana thuộc Pháp vào thế kỷ 17.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Hồi đó, Hà Lan là nước thực dân có tiềm lực. Ngay từ thế kỷ 17, Công ty Đông Ấn Hà đã sang Bắc Mỹ và mở mang công cuộc khai hoá. Năm 1614, trên vùng đất New York, người Hà Lan đã thành lập đất New Amxtecđam. Họ xây dựng cứ điểm trên vùng châu thổ các sông Hutson, Đolaoa và buôn bán da thú, thuốc lá - Bắc Mỹ trở thành nơi buôn bán quan trọng của Hà Lan.
Những người nô lệ đầu tiên bị thực dân Hà Lan chở sang vào năm 1619 và không lâu sau, việc buôn bán nô lệ ra đời. + Cuối những năm 30 của thế kỷ 17, Thụy Điển cũng tham gia công cuộc xâm thực này. Họ xây dựng nên vùng đất Thụy Điển mới nằm ở giữa thác của con sông Trenton và núi Henlopen. Nhưng người Hà Lan đã đánh bại người Thụy Điển vào năm 1655.
Tuy vậy, công cuộc xâm thực của Anh là mạnh mẽ và có hiệu quả hơn cả. Đặc biệt vào đầu thế kỷ 17. Năm 1607, nhóm di dân người Anh đầu tiên, 105 người, đặt chân lên đất Mỹ. Họ vượt biển Đại Tây Dương, cập bến tại địa bàn bang Virginia ngày nay và đặt tên khu định cư của họ là Jamestown, theo tên vua nước Anh hồi ấy là James.
Cuộc đấu tranh gay gắt trong nước Anh trước cách mạng 1640 là nguyên nhân tạo nên một làn sóng di cư rộng lớn ra nước ngoài tìm đất sống. Họ ra đi vì cuộc sống kinh tế, vì tư tưởng bất đồng giữa tín đồ Thanh giáo và Anh giáo, cũng có trường hợp vì muốn tìm một cuộc sống mới thoả mãn niềm khao khát về một miền đất lạ. Những người di thực chủ yếu vẫn là nông dân mất đất và dân nghèo thành thị không còn cách sinh sống trên đất Anh. Nền chính trị chuyên chế ở Anh hồi thế kỷ 17 cũng làm cho công cuộc di dân Anh mạnh mẽ hơn.
Cả những người trong tầng lớp tư sản, quý tộc chống đối cũng rời bỏ nước Anh đi khẩn thực. Những cuộc di thực của người Anh đến Bắc Mỹ mạnh mẽ vào những năm 20 của thế kỷ 18, khi chính sách tước đoạt ruộng đất ở Anh của giai cấp tư sản, quý tộc đã lên tới đỉnh điểm. Tất cả những yếu tố trên làm cho cơ sở xã hội của Anh ở Bắc Mỹ rộng hơn, mạnh hơn các quốc gia khác, có xu hướng phát triển thành một xã hội hoàn chỉnh. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến năm 1752 (tức là khoảng 150 năm sau khi những người Anh đầu tiên di dân sang Mỹ), thì 13 đơn vị hành chính đã được hình thành dọc bờ biển phía Đông và đó là 13 thuộc địa của Anh.
Tuy cách thức tổ chức và quy chế mỗi thuộc địa có khác nhau về chi tiết nhưng tất cả đều thuộc quyền cai quản của vua nước Anh và có chung đặc điểm là: mang tính tự quản cao, tuân theo pháp luật của Anh quốc và sự quản lý của Chính phủ Anh, coi như một bộ phận tách từ chính quốc ra hoặc do một công ty thương mại của chính quốc lập nên. Bộ máy quản lý xã hội thuộc địa thì một số do vua Anh chỉ định, một số do người định cư bầu lên và được vua Anh thừa nhận. Như vậy, mặc dù Anh quốc đến sau Tây Ban Nha và một số nước khác, nhưng đã xác lập được 13 thuộc địa trên vùng đất Bắc Mỹ, đặc biệt sau cuộc chiến tranh bảy năm giữa Anh và Pháp nhằm giành giật đất đai ở Bắc Mỹ (1757 - 1763), với thất bại của mình "Pháp không còn mẩu đất nào trên lục địa Bắc Mỹ, một nước Anh thắng trận với một nước Tây Ban Nha rất yếu" [23; 67]. Mười ba bang nguyên khai này là tiền đề vật chất tự nhiên để hình thành quốc gia Hoa Kỳ sau này.
Nguyên nhân chính làm cho người Anh thắng lợi trong công cuộc xâm lược là Anh quốc có thể chế chính trị pháp lý tiến bộ hơn các nước khác nên hùng mạnh hơn và có dã tâm chiếm vùng Tân thế giới làm thuộc địa. Và quan trọng hơn là tính ưu thắng của nền kinh tế - xã hội nước Anh lúc bấy giờ. Vào thế kỷ 17 - 18, nước Anh đã vượt qua các nước khác về phát triển kinh tế; đặc biệt là kinh tế hàng hải, điều kiện đó làm cho nước Anh chiếm ưu thế trong công cuộc bành chướng ở Bắc Mỹ. Tư sản thương nghiệp Anh chuyên chở hàng hoá của Anh tới châu Mỹ và từ châu Mỹ mang về những nguyên liệu đang cần cho một nền công nghiệp phát triển, như công nghiệp đóng tàu biển.
Sự phát triển của các ngành công nghiệp mẫu quốc và vai trò to lớn của tư bản thương nghiệp Anh cùng với sự trù phú về tài nguyên thiên nhiên khiến cho nền kinh tế của thuộc địa Bắc Mỹ phát triển rất mạnh mẽ. Những ngành công nghiệp nặng như khai thác mỏ, luyện sắt thép đều tăng tiến; công 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp dệt vải, dệt len, nghề thuộc da, đóng giày cũng phát triển; công nghiệp nấu rượu được mở mang, không chỉ phục vụ cho nội địa mà còn là hàng buôn bán có lợi và đổi lấy nô lệ da đen tận châu Phi. Ngành thương nghiệp ở 13 bang thuộc địa cùng với công nghiệp, nông nghiệp sản xuất hàng hoá đã phát triển. Đặc biệt thương nghiệp phát triển ở New England.
Ngành buôn bán da lông thú, đánh cá, khai thác gỗ, thuốc lá, lúa mì, chàm của Bắc Mỹ đều chiếm vị trí quan trọng, giá trị xuất khẩu không ngừng tăng với việc buôn bán không chỉ với chính quốc mà còn trực tiếp với Tây Ban Nha, Pháp, Hà Lan, Tây Ấn. Như vậy, thời kỳ này, các thuộc địa của Anh tại Bắc Mỹ đã hình thành một nền kinh tế phát triển toàn diện, có khả năng tự chủ và cạnh tranh với mẫu quốc, đây là cơ sở kinh tế căn bản nhất cho sự hình thành một quốc gia, dân tộc Mỹ trong tương lai và là động lực trực tiếp cho cuộc cách mạng Mỹ. Về mặt xã hội, trước tiên, do người châu Âu tìm ra châu Mỹ nên người đến định cư ở các thuộc địa này chủ yếu là người châu Âu, nhưng người Anh là đông đảo nhất: "Phần lớn dân định cư tới Mỹ vào thế kỷ 17 là người Anh, nhưng cũng có cả người Hà Lan, Thụy Điển và Đức, một số tín đồ Tin lành Pháp, và các nhóm rải rác người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý" [43; 40]. Cũng trong thời gian này, do vẫn còn duy trì chế độ nô lệ, nên người định cư còn bao gồm số lượng lớn công nhân nô lệ được mang từ châu Phi đến "Số nô lệ ở 13 bang thuộc địa vào năm 1770 đã có tới 462.000 người, có bang như nam Carolinna chiếm 60% cư dân,Virginia chiếm 40% cư dân" [60; 44].
Chúng ta có thể xem bảng thống kê số người di cư đến vùng Bắc Mỹ đến năm 1780 Đơn vị: (nghìn người) Nhập cư Nhập cư Tổng số trước năm 1700 từ năm 1700 - 1780 Từ châu Âu 395 438 833 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ châu Phi 344 1.480 (Nguồn: [24]) Như vậy, thời kỳ này, người định cư chỉ gồm người châu Âu - chủ yếu là người Anh và người nô lệ châu Phi, chưa có người châu Á và châu Úc, vì vậy, các yếu tố chính trị, pháp lý, văn hoá của Bắc Mỹ chịu ảnh hưởng của châu Âu là chủ yếu mà đặc biệt là của Anh quốc. Nghiên cứu đặc điểm này giúp ta giải thích vì sao các định chế pháp lý của Nhà nước Hoa Kỳ sau này lại có những nét giống với Anh quốc cũng như giúp ta hiểu thêm về cuộc đấu tranh để xây dựng chính quyền liên bang giữa các bang có chế độ nô lệ và các bang không có chế độ nô lệ.