Mở đầu: 4 trang Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 24 trang Chƣơng 2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu: 22 trang Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 83 trang Kết luận và kiến nghị: 2 trang Các công trình đã công bố liên quan đến đề tài : 1 trang Tài liệu tham khảo: 11 trang Phụ lục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về rừng Tràm cajuputi 1. Đặc điểm phân loại Theo Chevalier (1927) [20] và CAB (2006) [76 , về mặt phân loại, Tràm (Melaleuca cajuputi Powell) (gọi tắt là tràm cajuputi) là một trong 10 loài hợp thành phức hệ M.
leucadendra hay còn gọi là M. Do chúng có nhiều đặc điểm giống nhau, nên những loài thuộc phức hệ này rất khó phân biệt, nhất là ở những vùng chúng sống gần nhau. Trong phức hệ M. leucadendra, loài Melaleuca cajuputi có quan hệ gần gũi với M.
ex Gaertner và M. Những đặc tính phân biệt Tràm (Melaleuca cajuputi Powell) là cuống lá dài 3-11 mm; phiến lá hầu hết có kích thƣớc lớn hơn 5 cm; lá già lốm đốm tuyến dầu, hoa văn mắt lƣới nổi rõ nhƣ gân lá; chồi non có nhiều nhánh nhỏ vƣơn rộng. Trái lại, loài M. ex Gaertner có cuống lá dài 1-2 cm; phiến lá rất mỏng và rộng hơn 2,5 cm; chồi non có nhiều nhánh nhỏ mềm mƣợt ép sát vào nhau.
quinquenervia giống Melaleuca cajuputi nhƣng tuyến dầu không nổi rõ trên lá già, không tạo thành hoa văn mắt lƣới mỏng. Tràm cajuputi, phân bố tự nhiên ở Bắc nƣớc Úc, Papua New Guinea, một số đảo của Indonesia, Malaysia, Thái lan và Việt Nam. Trƣớc đây loài cây này đã bị định danh nhầm là Melaleuca leucadendron L. Loài có 3 phân loài cụ thể nhƣ sau (Brophy, Doran, 1996) [75]: M.
Cajuputi: Có phân bố tự nhiên ở Tây Bắc nƣớc Úc và Đông Indonexia (gồm cả đảo Buru và Ceram); M. Cimingiana: Có phân bố tự nhiên kéo dài từ Việt Nam qua Thái lan, Malaysia tới Tây Indonexia; M. Platyphylla: Gặp chủ yếu ở Bắc nƣớc Úc, Nam Papua New Guinea, Irian Jaya và một số đảo lân cận. Điều kiện hình thành và phân bố rừng tràm Theo Doran, J.
(1994) [81], Tràm cajuputi phân bố tự nhiên ở miền Bắc nƣớc Úc và Papua New Guinea. Tuy nhiên, loài cây này cũng phân bố rộng rãi trong khu vực Đông Nam Á nhƣ Indonesia, Malaysia, Myanma, Thái Lan, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Việt Nam và Ấn độ. Nói chung, Tràm cajuputi phân bố tự nhiên từ 120 độ vĩ Bắc đến 180 độ vĩ Nam. Trong tự nhiên, Tràm cajuputi mọc chủ yếu ở các miền duyên hải của vùng nhiệt đới nóng ẩm với nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng nóng nhất là 31 - 330C; nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng lạnh nhất là 17 - 220C.
Loài Tràm cajuputi còn sống ở vùng có tới 230 ngày nhiệt độ trên 320C, nhƣng chỉ có vài ngày nhiệt độ trên 380C. Nó cũng mọc cả ở vùng không có sƣơng giá, lƣợng mƣa trung bình năm dao động từ 1.750mm, gió mùa mạnh. Về độ cao, Tràm cajuputi phân bố từ gần biển đến khoảng 200 m so với mặt biển, sống tốt nhất ở những vùng đầm lầy ven biển; trong đó đất đƣợc hình thành từ phù sa bồi tụ, giàu hữu cơ, khả năng tiêu nƣớc kém, độ màu mỡ thấp, nhiều axit sunphat. Trong các đầm lầy, Tràm cajuputi cùng với Lộc vừng (Barringtonia actangula), và Gáo vàng (Nauclea orientalis) hình thành rừng thƣa hỗn hợp hay rừng gỗ.
Ngƣợc lại, tại đảo Moluccas Tràm cajuputi hình thành rừng gần nhƣ thuần loại, nó cũng có thể mọc cả ở đất liền và trên những vùng đồi đất cằn cỗi với tầng đất sét nâu đỏ. Ở phía Tây đảo Seram (Indonesia), Tràm cajuputi hình thành rừng thuần loại hoặc những quần thể rải rác ở vùng đất thấp và đồi thấp từ 30 - 150m so với mặt biển. Ở vùng ven biển phía Nam đảo Buru (Indonesia), Tràm cajuputi thƣờng mọc hỗn giao với các loài M. quinquenervia; còn ở bán đảo Hoamoal là rừng thuần loại (150.
Ở Úc có 7,1 triệu ha rừng tràm (4% diện tích rừng toàn quốc), nhƣng chúng là loại rừng có diện tích lớn thứ 3 sau rừng Eucalyptus và Acacia [71],[80]. Nghiên cứu về đất ngập nƣớc 1. Nghiên cứu về các đặc điểm đất phèn - Đất phèn đƣợc gọi bằng một số tên sau đây: Van der Spek (1950) gọi là “catclays”, muốn chỉ đất chua, có tầng sunphat sắt hay sunphat nhôm, có những đốm vàng trong tầng phẫu diện; Edelman và Van Staveren (1956) lại gọi là “mudclays”, ý muốn nói tầng đất này chứa nhiều sét bùn, chua, có chất nhờn; Hoặc có tác giả gọi đất phèn là đất “thiosol”, muốn chỉ rằng trong đất có nhiều lƣu huỳnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hay sunfat; hay còn gọi là đất “acid peat soil”, muốn nói trong đất chua vừa có nhiều hữu cơ dạng gần giống than bùn và nhiều axit sunphuric. Cũng có tác giả gọi là “strong acid sulphate soil of salty padly fields” để chỉ những cánh đồng trồng lúa giàu axit sunphuric và mặn ven biển Nhật Bản.
Ngày nay, ở Hội nghị đất phèn thế giới đều lấy tên chung của đất phèn là “acid sunlphate soil”, trong đó bao hàm cả loại đất có tiềm năng sinh ra phèn, trích dẫn Lê Huy Bá (2003) [2]. - Dựa trên sự hình thành và phát triển của đất, Pons (1973), trích dẫn bởi Lê Huy Bá (2003) [2] đã chia đất phèn ra làm hai loại: + Đất phèn tiềm tàng: Hình thành trong điều kiện khử, là đơn vị đất thuộc nhóm đất phù sa phèn. Đất phèn tiềm tàng đƣợc hình thành trong vùng chịu ảnh hƣởng của nƣớc có chứa nhiều sulfat. Trong điều kiệm yếm khí cùng với hoạt động của vi sinh vật, sulfat bị khử để tạo thành lƣu huỳnh và chất này sẽ kết hợp với sắt có trong trầm tích để tạo thành FeS2.
+ Đất phèn hoạt động: Là một đơn vị đất thuộc nhóm đất phèn, đƣợc hình thành sau khi đất phèn tiềm tàng diễn ra quá trình oxy hóa. Khi khoáng pyrit trong đất phèn tiềm tàng bị ôxy hóa hoàn toàn để hình thành khoáng jarosit ở đất phèn hoạt động thì cứ 1 mol FeS2 khi bị ôxi hóa sẽ sản sinh ra 4 mol ion H+. Do có sự gia tăng nồng độ H+ nhiều nhƣ thế nên có sự gia tăng độ chua trong đất. Môi trƣờng đất lúc bấy giờ có pH khá thấp, thông thƣờng pH = 3,5.
Tuy nhiên, ở một vài nơi có điều kiện rửa phèn khá tốt, có thể có giá trị pH cao hơn (pH = 3,7 hoặc 3,9). Quản lý đất ngập nƣớc Quản lý ĐNN theo cách tiếp cập HST đã đƣợc IUCN, 2004 [30 định nghĩa nhƣ sau: “là một chiến lược để quản lý tổng hợp đất, nước và các tài nguyên sống nhằm tăng cường bảo vệ và sử dụng bền vững theo hướng công bằng”. Dugan (1993) [101], định nghĩa về ĐNN của Công ƣớc Ramsar (2000) [102], là một định nghĩa có tầm rộng nhất, đƣợc nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế sử dụng. Theo đó, “ĐNN là những vùng đầm lầy không than bùn, đầm lầy có than bùn, đất than bùn hoặc nước, dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6 mét”.
Quan điểm của công ƣớc Ramsar về quản lý bền vững ĐNN: “Sử dụng khôn khéo” ĐNN và đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “duy trì đặc điểm sinh thái của ĐNN qua thực hiện cách tiếp cận HST trong khuôn khổ của phát triển bền vững”. Do đó tâm điểm của “Sử dụng khôn khéo” là bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN và tài nguyên của chúng vì lợi ích của con ngƣời. - Theo IUCN (2009) [32], quản lý ĐNN theo cách tiếp cận HST đã liệt kê 12 nguyên tắc hƣớng dẫn cần phải nhớ khi thực hiện cách tiếp cận này, trong đó nổi bật là tìm kiếm sự cân bằng thích hợp và sự hòa nhập của việc bảo tồn và sử dụng ĐDSH; thu hút sự tham gia của tất cả các bên có liên quan; và nên xem xét tất cả các dạng của thông tin có liên quan, bao gồm những kiến thức khoa học và bản địa và địa phƣơng, sự đổi mới và thực tiễn. Về quản lý nguồn tài nguyên trong các khu bảo tồn có sự tham gia của CĐĐP, tổ chức IUCN (2008), [31 , đã đề ra 5 nguyên tắc nhƣ sau: Nguyên tắc 1: CĐĐP, ngƣời dân bản địa đã gắn bó lâu đời với tự nhiên và thấu hiểu sâu sắc tự nhiên.
Họ đã góp phần quan trọng vào việc gìn giữ các HST của trái đất thông qua sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững và tôn trọng tự nhiên dựa trên nền tảng bản sắc dân tộc. Chính vì vậy mà xung đột giữa mục tiêu bảo tồn với sự tồn tại của ngƣời dân địa phƣơng sống bên trong và xung quanh ranh giới KBT đã không xảy ra. Hơn thế, họ phải đƣợc coi là những đối tác bình đẳng và đƣợc hƣởng lợi trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lƣợc bảo tồn có những tác động đến đất đai, lãnh thổ, nguồn nƣớc, duyên hải và các nguồn lợi khác, đặc biệt tác động đến quá trình xây dựng và quản lý các KBT. Nguyên tắc 2: Xây dựng và quản lý các KBT cần dựa trên sự tôn trọng tất cả các quyền của CĐĐP và ngƣời bản địa trong việc sử dụng theo truyền thống và bền vững đất đai, lãnh thổ, nguồn nƣớc, bờ biển và các nguồn lợi khác.
Đồng thời, các thoả thuận đó phải trên cơ sở khẳng định trách nhiệm của CĐĐP, ngƣời dân bản địa trong việc bảo tồn ĐDSH, tính toàn vẹn của HST, nguồn tài nguyên thiên nhiên có trong các KBT. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nguyên tắc 3: Nguyên tắc phân cấp, tham gia, minh bạch và trách nhiệm cần đƣợc thể hiện trong tất cả các hoạt động liên quan đến lợi ích chung của khu bảo tồn thiên nhiên, CĐĐP, ngƣời dân bản địa. Nguyên tắc 4: CĐĐP, ngƣời dân bản địa phải có khả năng chia sẻ một cách công bằng và đầy đủ các lợi ích có liên quan đến các KBT, đƣợc công nhận tất cả các quyền công bằng nhƣ các đối tác khác. Nguyên tắc 5: Quyền của CĐĐP, ngƣời dân bản địa đối với các KBT thƣờng gắn với trách nhiệm có tính quốc tế vì nhiều vùng đất đai, lãnh thổ, nguồn nƣớc, biển, bờ biển và các nguồn tài nguyên khác mà họ sở hữu hoặc chiếm dụng thƣờng liên biên giới quốc gia.
Quản lý rừng tràm trên vùng ĐNN 1.