Chương 1: Tổng quan về RR, QLRR và các công trình nghiên cứu về QLRR trong xây dựng. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết về QLRR trong xây dựng. - Chương 3: Nhận dạng, phân tích và đánh giá các NTRR trong TCCTGTĐB ở Việt Nam. - Chương 4: Xây dựng giải pháp ứng phó đối với các NTRRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam bằng phƣơng pháp Delphi.
- Chương 5: Đo lƣờng mức độ RRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam bằng phƣơng pháp F-AHP. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO, QUẢN LÝ RỦI RO VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG XÂY DỰNG 1.1 Khái niệm và phân loại rủi ro 1.1 Khái niệm rủi ro Trƣớc khi tiến hành thực hiện QLRR, việc hiểu rõ chính xác khái niệm của RR là điều cực kỳ quan trọng [54]. Trong các nghiên cứu trƣớc, khái niệm “RR” đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ví dụ nhƣ là hiểm họa hay bất trắc và chƣa có một khái niệm nhất quán nào đƣợc đƣa ra. Hầu hết các khái niệm về RR chỉ tập trung vào mặt trái của RR nhƣ tổn thất hoặc thiệt hại mà bỏ qua mặt tích cực của nó nhƣ là lợi nhuận và cơ hội [38].
Ý nghĩa của RR cũng tùy thuộc vào từng ngƣời mà cụ thể là tùy thuộc vào quan điểm, thái độ và kinh nghiệm [44]. Trên thế giới, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra khái niệm về RR. Có thể chia ra hai trƣờng phái chính nhƣ sau: - Trường phái thứ nhất: xem xét RR là sự xuất hiện một biến cố bất lợi xảy ra trong tƣơng lai có thể đo lƣờng đƣợc. Điển hình cho trƣờng phái này là Frank Knight [76], cho rằng “RR là sự bất trắc có thể đo lƣờng đƣợc”.
Tƣơng tự, theo Pfeffer [98] thì “RR là tổng hợp những sự kiện ngẫu nhiên mà chúng có thể đo lƣờng đƣợc bằng lý thuyết xác suất”. Hay nhƣ theo McCarty [86], “RR là một tình trạng mà các biến cố xảy ra trong tƣơng lai có thể đo lƣờng đƣợc”. - Trường phái thứ hai: xem xét RR với sự chú trọng đến kết quả đạt đƣợc mà không cần quan tâm đến xác suất xảy ra. Trong trƣờng phái này phải kể đến Willet [131], tác giả cho rằng RR là một sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không nhƣ mong đợi.
Theo William [132], RR là sự biến động một cách tiềm ẩn ở kết quả đầu ra. Một quan điểm khác, Mehdizadeh [88] cho rằng có rất nhiều NTRR tác động đến dự án nhƣng vấn đề là ở chỗ tất cả các nhân tố này đều đƣợc gọi một cách mơ hồ là “RR” mà không hiểu rõ bản chất của nó. Ví dụ nhƣ nhân tố trễ tiến độ và vƣợt chi phí có thể xem là các “hậu quả” của quá trình thực hiện trong khi các nhân tố khác nhƣ biến động thị trƣờng, thiên tai… thì có thể xem nhƣ là “nguồn gốc”. Từ đó tác giả đi 7 tổng hợp các nghiên cứu trƣớc theo hai quan điểm khác nhau về định nghĩa của “RR” đƣợc thể hiện ở Phụ lục 1.
Ở Việt Nam, đặc biệt trong ngành CNXD, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực QLRR và đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Từ Quang Phƣơng [26] định nghĩa RR là tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên (bất trắc) có thể đo lƣờng bằng xác suất, là những bất trắc gây nên các mất mát thiệt hại. RR trong QLDA là một đại lƣợng có thể đo lƣờng đƣợc. Một cách tƣơng tự, Bùi Ngọc Toàn [30] định nghĩa RR dự án là tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên, những tình huống không thuận lợi liên quan đến bất định, có thể đo lƣờng bằng xác suất không đạt mục tiêu đã định của dự án và gây nên các mất mát, thiệt hại.
Một nghiên cứu khác, Nguyễn Văn Chọn [2] đƣa ra khái niệm RR của DAĐT là một loạt các biến cố ngẫu nhiên tác động tiêu cực lên toàn bộ các giai đoạn, làm thay đổi kết quả đầu tƣ theo chiều hƣớng bất lợi và có thể đo lƣờng bằng các khái niệm xác suất RR. RR còn có thể đƣợc hiểu là khả năng có sai lệch giữa một bên là những gì xảy ra trên thực tế với một bên là những gì đƣợc dự kiến từ trƣớc, mà sự sai lệch này lớn đến mức khó chấp nhận. Ở đây cũng cần phân biệt rõ RR và bất trắc. Bất trắc phản ánh tình huống trong đó không thể biết đƣợc xác suất xuất hiện của sự kiện.
Khái niệm bất trắc chứa đựng yếu tố chƣa biết nhiều hơn khái niệm RR. RR và bất trắc có thể xem nhƣ hai đầu của đƣờng thẳng. RR nằm ở phía đầu có khả năng đo lƣờng đƣợc nhiều hơn và nhiều số liệu thống kê hơn để đánh giá. Bất trắc nằm ở đầu còn lại sẽ không có số liệu.
Tuy nhiên việc phân định giữa RR và bất trắc chỉ mang tính chất tƣơng đối. Tuỳ thuộc vào thông tin có thể có đƣợc và khả năng đánh giá của mỗi cá nhân hay tổ chức mà nó có thể là RR hoặc là bất trắc. Chẳng hạn đối với NTTC, khả năng CTXD của họ gặp động đất hoặc lũ lụt có thể đƣợc coi là bất trắc, nó khó lƣờng và không xác định đƣợc xác suất xảy ra, trong khi hiện tƣợng này có thể lại đƣợc xem là RR đối với công ty bảo hiểm, họ có cơ sở dữ liệu để có thể tính toán đƣợc xác suất và mức độ thiệt hại xảy ra [34].2 Phân loại rủi ro (PLRR) Để nhận biết và QLRR một cách hiệu quả và trực quan, ngƣời ta thƣờng PLRR 8 theo những khía cạnh khác nhau tùy vào mục đích sử dụng trong các hoạt động hƣớng đến. Có nhiều tác giả nghiên cứu về RR đã đƣa ra cách phân loại của riêng mình.
Ví dụ nhƣ Walker [125] đã PLRR bao gồm môi trƣờng xã hội và sai sót do con ngƣời gây ra; Christensen [58] cho rằng RR có thể phân loại thành RR có thể tính toán đƣợc và RR không thể tính toán đƣợc; Caltrans [50] phân RR thành các RR phát sinh từ môi trƣờng bên ngoài (khách quan) và môi trƣờng bên trong (chủ quan); Al-Bahar Crandall [38] đã phân chia RR trong xây dựng thành sáu thành phần chính sau: RR do thiên tai, RR vật lý, RR tài chính và kinh tế, RR môi trƣờng và chính trị, RR liên quan đến thiết kế và RR thi công. Ở Việt Nam, Ngô Thị Ngọc Huyền và cộng sự [19] cho rằng RR có thể đƣợc phân loại thành RR tĩnh và RR động. Đoàn Thị Hồng Vân [34] lại phân RR theo môi trƣờng tác động, bao gồm môi trƣờng thiên nhiên, luật pháp, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, công nghệ. Ngoài ra, còn phải kể đến cách phân loại của Nguyễn Văn Chọn [2], Lê Kiều [22], Nguyễn Liên Hƣơng [20].
Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng về cách PLRR thì nghiên cứu của Trịnh Thùy Anh [1] là khá rõ ràng và toàn diện. Do vậy Luận án này PLRR dựa trên cơ sở đó. Phân loại rủi ro theo môi trƣờng tác động - RR do môi trƣờng bên trong: là những RR do phát sinh từ môi trƣờng nội tại bên trong gây ra. - RR do môi trƣờng bên ngoài: là những RR do yếu tố bên ngoài nhƣ thiên nhiên, xã hội, chính trị, luật pháp, kinh tế.
Phân loại theo đối tƣợng rủi ro Phân loại theo đối tƣợng RR tác động có thể bao gồm ba loại: RR ảnh hƣởng đến chi phí; RR ảnh hƣởng đến thời gian; và RR ảnh hƣởng đến chất lƣợng. Phân loại theo các ngành, lĩnh vực hoạt động Phân theo tiêu thức này thì RR bao gồm: RR trong công nghiệp, nông nghiệp, kinh doanh thƣơng mại, RR trong hoạt động ngoại thƣơng, kinh doanh ngân hàng, du lịch, RR đầu tƣ, RR trong ngành xây dựng, RR trong ngành GTVT … 9 Phân loại theo bản chất rủi ro - RR thuần tuý: là loại RR nếu nó xảy ra thì dẫn đến kết quả tổn thất về kinh tế nhƣ hoả hoạn, tai nạn lao động. - RR suy tính: hay còn gọi là RR đầu cơ, là loại RR mà khi nó xảy ra có thể dẫn đến kết quả là lời hoặc lỗ, đƣợc thua hoặc không đổi, do ảnh hƣởng của những nguyên nhân rất khó dự đoán trong khi phạm vi ảnh hƣởng rất rộng lớn. Phân loại theo khả năng lƣợng hoá - RR có thể tính toán đƣợc: là loại RR mà tần số xuất hiện của nó có thể tiên đoán đƣợc ở một mức độ tin cậy nhất định.
- RR không thể tính toán đƣợc: là RR mà tần số xuất hiện của nó quá bất thƣờng và rất khó dự đoán đƣợc. Phân loại theo khả năng bảo hiểm - RR không thể bảo hiểm. - RR có thể bảo hiểm. Rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống Theo tiêu chí này tổng RR nhà đầu tƣ có thể chia thành 2 loại: - RR không hệ thống: là RR đồng nhất cho mỗi nhà đầu tƣ riêng biệt, nhƣ sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh, hoặc quản lý không có hiệu quả.
- RR hệ thống: là RR xuất hiện do các yếu tố tác động lên toàn bộ thị trƣờng nhƣ chiến tranh, khủng hoảng năng lƣợng, chiến lƣợc cạnh tranh quốc gia.2 Khái niệm quản lý rủi ro (QLRR) Theo Lam [78], QLRR là một công cụ quan trọng để đối phó với những RR quan trọng trong ngành CNXD vì: (1) đánh giá và xác định tính khả thi của dự án; (2) phân tích và kiểm soát các RR để giảm thiểu tổn thất; (3) giảm nhẹ các RR bằng cách lập kế hoạch thích hợp; và (4) tránh các dự ợi nhuận. Theo Flanagan và Norman [66] ải thiện đáng kể hiệu quả QLDA có thể đạt đƣợc từ việc áp dụng quy trình QLRR. 10 Một vài nhà nghiên cứu đã đƣa ra các định nghĩa về QLRR, nhƣ Uher và Toakley [120] định nghĩa QLRR là một quy trình kiểm soát mức độ RR và giảm thiểu ảnh hƣởng củ ; Merna và Njiru [90] định nghĩa QLRR là mộ ộng bất kỳ đƣợc thực hiệ ặc công ty với nỗ lực để làm thay đổi các RR xuất hiện từ việc kinh doanh của họ; Wang và cộng sự [128] định nghĩa QLRR là mộ ật tự ệc nhận dạ ứng phó RR một cách có hệ thống trong suốt vòng đời của một dự án. Phát biểu một cách chi tiết hơn, QLRR là việc NDRR, đo lƣờng MĐRR, trên cơ sở đó lựa chọn, triển khai và quản lý các hoạt động nhằm hạn chế và khắc phục RR trong suốt vòng đời dự án.
QLRR là chủ động kiểm soát các sự kiện tƣơng lai dựa trên cơ sở kết quả dự báo trƣớc các sự kiện xảy ra chứ không phải phản ứng thụ động.