CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm chung 1. Khái niệm về quản lý môi trường và quản lý nhà nước về môi trường Quản lý môi trường (sau đây gọi tắt là QLMT) là: tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia [28].
Quản lý Nhà nước về BVMT là một nội dung cụ thể của quản lý Nhà nước. Đó là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Quản lý Nhà nước về BVMT xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia. Công cụ quản lý môi trường Công cụ QLMT là các biện pháp hành động thực hiện công tác QLMT của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất.
Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau [28]. Công cụ quản lý môi trường phân loại theo chức năng, gồm: - Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách. - Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt,. Công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác BVMT.
Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường. - Công cụ hỗ trợ là công cụ kinh tế. Công cụ quản lý môi trường phân loại theo bản chất, gồm: - Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách MT quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Công cụ kinh tế gồm các loại thuế tài nguyên; thuế/phí môi trường; giấy phép và thị trường giấy phép môi trường; hệ thống đặt cọc - hoàn trả; ký quỹ môi trường; trợ cấp môi trường; nhãn sinh thái; quỹ môi trường đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. - Công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, monitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào.
- Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường: Đây là công cụ quản lý môi trường gián tiếp và rất cần thiết, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Nguồn tài chính cho bảo vệ môi trường Môi trường được xác định là một trong ba trụ cột quan trọng của PTBV. Trong QLNN đối với phát triển, BVMT thuộc loại hoạt động công cộng cần Nhà nước quan tâm đầu tư tài chính, bởi hai lý do, một là vai trò quan trọng của MT trong PTBV và hai là BVMT đến nay chưa phải là lĩnh vực đem lại mức lợi nhuận hấp dẫn để thu hút sự đầu tư tư nhân. Chính vì vậy, Nhà nước cần đầu tư tài chính cho lĩnh vực BVMT và quy mô, phạm vi của đầu tư này phụ thuộc vào quy mô, phạm vi của nhu cầu, yêu cầu BVMT và sự tham gia của tư nhân, của cộng đồng trong xã hội.
Điều này có nghĩa rằng, khi sự tham gia tư nhân và cộng đồng càng tăng thì đầu tư của Nhà nước sẽ càng giảm; và ngược lại. Các nước trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển đều đang hướng tới nguyên lý giảm đầu tư của Nhà nước và tăng đầu tư của tư nhân và cộng đồng trong xã hội bởi nguyên tắc QLMT là người khai thác, sử dụng, gây ô nhiễm hay hưởng thụ từ MT đều phải trả tiền. Trong thực tế, mọi quốc gia đều phải dành một phần NSNN nhất định cho công tác QLMT, tùy thuộc vào bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội chính trị của từng quốc gia. Việt Nam là một nước đang phát triển cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Công tác đầu tư cho BVMT đã được Việt Nam quan tâm thực hiện trong nhiều thập kỷ nay. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Đầu tư BVMT là đầu tư phát triển; đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho BVMT và bố trí khoản chi riêng cho SNMT trong NSNN hằng năm. Nguồn tài chính BVMT gồm có: a) Ngân sách nhà nước; b) Vốn của tổ chức, cá nhân để phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình; c) Vốn của tổ chức, cá nhân cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, công nghiệp và dịch vụ về môi trường; d) Tiền bồi thường thiệt hại về môi trường, thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường, tiền phạt về môi trường và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật; đ) Đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước; e) Vốn vay ưu đãi và tài trợ từ quỹ bảo vệ môi trường; g) Vốn vay từ ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật. NSNN có mục chi thường xuyên cho SNMT phù hợp với yêu cầu BVMT của từng thời kỳ.
Sơ đồ 1 : Nguồn tài chính cho bảo vệ môi trường ở Việt Nam Nguồn tài chính cho BVMT Nguồn ngân sách nhà nước Nguồn ngoài ngân sách nhà nước Chi Đầu tư Cộng thường phát Doanh NGO/ ODA đồng xuyên triển nghiệp INGO (KPSN (XDCB) dân cư MT) Nguồn: bài viết "Một số ý kiến về kinh phí sự nghiệp môi trường trong bảo vệ môi trường ở nước ta” (Tạp chí Môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường, số 7-2012). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Khái niệm về ngân sách nhà nước và ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường 1. Ngân sách nhà nước, thu chi NSNN NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, các khoản được đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Ngân sách nhà nước cho BVMT NSNN cho BVMT được sử dụng vào các mục đích sau đây: a) Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường công cộng; b) Chi thường xuyên cho SNMT. Tổng quan về chi ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường - Ngân sách nhà nước (NSNN) cho bảo vệ môi trường (BVMT) được sử dụng vào các mục đích: Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường công cộng; Chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường (SNMT).
- Chi NSNN cho BVMT được đầu tư từ các nguồn kinh phí sau đây: (1). Chi sự nghiệp môi trường: Được bố trí thành một khoản riêng trong NSNN; các dự án, nhiệm vụ được bố trí theo nhiệm vụ chi quy định tại TT 02/2017/TT-BTC. Chi sự nghiệp khoa học: Được bố trí để triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu nhằm đề xuất các công nghệ xử lý MT của Việt Nam, công nghệ thân thiện môi trường, nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho công việc xây dựng cơ chế, chính sách BVMT. Chi sự nghiệp kinh tế: Được bố trí để thực hiện các dự án, nhiệm vụ có nội dung, tính chất điều tra cơ bản về MT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Chi đầu tư xây dựng cơ bản: Được bố trí để đầu tư xây dựng các công trình xử lý chất thải công ích (hệ thống xử lý chất thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt tập trung, lò đốt chất thải bệnh viện,…), hệ thống quan trắc và phân tích môi trường (thiết bị và nhà trạm). Tuy nhiên, đầu tư từ nguồn này còn rất hạn chế và chưa được tách thành một nguồn riêng tương tự như chi SNMT. Chi từ vốn viện trợ quốc tế: Nguồn hỗ trợ quốc tế đã đóng góp một phần cho đầu tư các công trình xử lý MT tập trung ở các địa phương (bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung, trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, lò đốt chất thải y tế,…); hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực QLMT các cấp, nâng cao nhận thức cộng đồng về BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học.
Tổng quan về kinh phí sự nghiệp môi trường 1.