Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình nghiên cứu liên quan về hoạt động thực tập Ở Liên Xô và một số nước Đông Âu trước đây đã có những công trình khoa học nghiên cứu về nội dung, chương trình thực tập, kỹ năng thực hành trong giảng dạy cho sinh viên trước khi làm công tác thực tập, tiêu biểu như các tác giả: Gutsev, Ivanôv, Socôlôv, O. Hầu hết các nhà khoa học cho rằng: Muốn tổ chức thực tập sư phạm tốt, không chỉ quan tâm đến công việc tổ chức đơn thuần mà phải đi sâu vào bản chất các hoạt động của quá trình rèn luyện năng lực sư phạm nói chung, năng lực dạy học nói riêng.
Đặc biệt, tạo điều kiện cho sinh viên thực hành, vận dụng, kiểm chứng cái đã học, từ đó giúp họ có điều kiện để tự rèn luyện nhân cách. Là một quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, Hoa Kỳ đang quan tâm chú trọng chuyển đổi dần chương trình đào tạo, từ chủ yếu trang bị kiến thức lý thuyết, học thuật thiếu liên kết với thực tiễn sang đào tạo kết hợp xen kẽ giữa trang bị nội dung tri thức cơ bản với thực hành, thực tập, tiêu biểu như mô hình hoạt động của: “Hệ thống trường phát triển nghiệp vụ- 18 Professional Development School” [105] là một mô hình hoạt động tương đối hiệu quả. Như vậy, Hoa Kỳ có quan điểm thực tiễn hơn trong tổ chức HĐTT cũng như xem xét đánh giá kết quả thực hành, thực tập của sinh viên. Tại Hội thảo về đổi mới việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên của các nước châu Á và Thái Bình Dương năm 1988 do UNESCO tổ chức tại Hàn Quốc đã xác định tầm quan trọng của việc hình thành tri thức và kỹ năng sư phạm cho sinh viên cũng như những bất cập trong thực hành, thực tập sư phạm.
Đồng thời, đưa ra một số chủ trương biện pháp nhằm cải thiện vấn đề này. Như vậy, hoạt động thực hành thực tập có vai trò quan trọng nhằm gắn kết kiến thức, kỹ năng, thái độ với hoạt động thực tiễn xã hội. Các nghiên cứu của quỹ Carnegie, Annenberg và Ford ở Hoa Kỳ (2001) kết luận “Khi xây dựng chương trình thực tập sư phạm cần tăng cường hơn việc thực hành, thực tập, làm mẫu. Các tác giả Roger Gowr, Diane Phillips và Steve Walters đã phân tích biện pháp cần thiết mà giáo viên hướng dẫn thực tập cần áp dụng giúp cho sinh viên sư phạm quan sát, thực hành và luyện tập tốt hơn tại trường phổ thông” [106].
Nền giáo dục của các nước trên thế giới hiện nay đang có xu hướng quan tâm nhiều hơn tới công tác đào tạo theo kiểu gắn kết giữa lý thuyết với thực hành; sản phẩm đào tạo phải đáp ứng được với nhu cầu việc làm và thị trường lao động của xã hội. Cho nên, việc xây dựng nội dung, chương trình đào tạo cũng được xác định theo hướng trang bị những kiến thức cơ bản, chủ yếu kết hợp với tăng cường tổ chức các hoạt động thực hành, thực tập cho người học. Hệ thống giáo dục, đào tạo phương Tây rất chú trọng tới hoạt động thực tập của sinh viên. Sinh viên đại học Califolia- Davis của Hoa Kỳ bắt đầu phối hợp với giáo viên phổ thông thực hiện các HĐTT trước khi bắt đầu năm học mới “Học cách tổ chức lớp học, chuẩn bị kế hoạch dạy học, giáo án, gặp gỡ học sinh vào ngày đầu tiên của khóa học.
Thời gian thực tập kéo dài trong cả năm cho đến khi sinh viên thực tập phối hợp với giáo viên phổ thông thực hiện công việc để kết thúc năm học” [19]. 19 Các tác giả Darling - Hammond, Haselkom (2009) trong công trình “Are we mising the boat” [107] rất coi trọng vai trò của thực tập nhằm gắn kết lý thuyết với thực hành, các tác giả đã chỉ rõ: Chương trình thực tập sư phạm phải xác định rõ những năng lực, kỹ năng, kinh nghiệm mà sinh viên cần đạt được để đảm bảo trong tương lai họ sẽ đứng lớp được một cách dễ dàng; phải tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa lý thuyết với thực hành, mối quan hệ giữa chúng và việc hợp tác chặt chẽ gắn kết với phát triển, cùng nhau thực hiện trong quá trình đào tạo. Thời gian thực tập của sinh viên các nước trên thế giới cũng khác nhau: Ở Hàn Quốc, sinh viên thường thực tập giảng dạy cả ngày từ 4 đến 6 tuần trước khi kết thúc chương trình đào tạo giáo viên; ở Hồng Kông, sinh viên phải thực tập giảng dạy từ 8 đến 10 tuần trước khi tốt nghiệp; ở Úc, sinh viên thực tập sư phạm thời gian khoảng 80 đến 100 ngày” [19]. Qua nghiên cứu các công trình khoa học nước ngoài cho thấy, các nhà nghiên cứu của Liên Xô và Đông Âu trước đây rất quan tâm đến việc tổ chức hoạt động thực hành, thực tập cho sinh viên.
Trên cơ sở trang bị hệ thống kiến thức, khoa học, toàn diện, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên vận dụng vào thực tiễn kiểm chứng kiến thức đã học để tự rèn luyện nhân cách. Tuy nhiên, trước bối cảnh toàn cầu hóa, trong đó có giáo dục thì những quan điểm trên chưa phù hợp với xu hướng giáo dục của thời đại. Ngược lại, các quan điểm giáo dục của các nhà nghiên cứu phương Tây với quan điểm thực dụng lại xem thực hành, thực tập mang tính thực tiễn hơn, cụ thể hơn dưới góc độ tâm lý học và lấy người học là đối tượng trung tâm của quá trình dạy học. Mặc dù, chưa đi sâu nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận năng lực.
Tuy nhiên, đây chính là tiền đề quan trọng, mở ra một hướng nghiên cứu mới: “Tiếp cận đào tạo theo năng lực”. Các công trình nghiên của các tác giả trong nước đã đề cập đến nhiều vấn đề có liên quan đến HĐTT. Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh (1991) về “Thực tập sư phạm” [15] và đồng tác giả Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Trung Thanh 20 (1998) về “Kiến tập và thực tập sư phạm” [16] đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về tổ chức thực tập sư phạm như: Thế nào là năng lực sư phạm, cấu trúc của năng lực sư phạm và các phương pháp hình thành và phát triển năng lực sư phạm, đưa ra các hình thức thực tập sư phạm khác nhau, thực tập sư phạm phải có trưởng đoàn là giáo viên trường sư phạm. Các tác giả cho rằng hình thức gửi thẳng sinh viên về các trường phổ thông khó cho công tác giám sát và đánh giá kết quả thực tập của sinh viên sau này.
Tác giả Nguyễn Chính Lý (2006) với luận án tiến sĩ: “Bồi dưỡng năng lực thực hành công tác đảng, công tác chính trị của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự trong giai đoạn hiện nay” [73] cho rằng, bồi dưỡng năng lực thực hành công tác đảng, công tác chính trị của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội là một nội dung quan trọng trong hoạt động đào tạo. Thông qua hoạt động thực hành, thực tập giúp học viên củng cố, mở rộng tri thức và hình thành, phát triển kỹ năng, kỹ xảo cho người học. Năng lực công tác đảng, công tác chính trị hợp thành năng lực của người cán bộ chính trị cấp phân đội và khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn. Đề tài khoa học cấp ngành: “Giải pháp nâng cao chất lượng thực tập tại đơn vị cơ sở cho học viên đào tạo chính trị viên đại đội ở Trường Sĩ quan Chính trị” [71] do tác giả Trịnh Xuân Lộc (2010) chủ nhiệm đề tài, đã khẳng định nội dung thực tập của học viên ở các TSQQĐ chủ yếu tập trung vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ của chính trị viên đại đội, chính trị viên phó đại đội và trung đội trưởng “Những kiến thức, kĩ xảo, kĩ năng nghề nghiệp của học viên được rèn luyện thường xuyên, nhất là giai đoạn thực tập ở đơn vị cơ sở giúp họ tiếp cận thực tiễn, vận dụng tổng hợp những tri thức đã học vào thực hiện chức trách ban đầu trên cương vị chính trị viên đại đội, chính trị viên phó đại đội và trung đội trưởng” [71, tr.
Đề tài cho rằng, thực tập tại đơn vị chính là điều kiện tốt để học viên rèn luyện bản lĩnh chính trị, phương pháp, tác phong công tác, thực hành chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tính tích cực 21 sáng tạo, kĩ năng thực hành công tác đảng, công tác chính trị, phương pháp tác phong chỉ huy. Đồng thời, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị trong điều kiện mới. Bàn về các biện pháp thực hiện nội dung HĐTT, các tác giả đề xuất một số giải pháp như: “Thống nhất nhận thức, đề cao trách nhiệm các lực lượng của nhà trường trong tổ chức thực tập cho học viên; tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy chuyên ngành đào tạo chính trị viên đáp ứng yêu cầu thực tập của học viên; phối hợp chặt chẽ, giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà trường với các đơn vị học viên thực tập” [71, tr. Tuy nhiên, công tác quản lý HĐTT của học viên ở đây chưa được đề cập.
Đề tài khoa học cấp Trường “Chất lượng thực tập tại Trường của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Chính trị thực trạng và giải pháp” [83] do tác giả Nguyễn Văn Phúc (2011) chủ nhiệm đề tài, đã khẳng định “Ở bậc đại học, cùng với thực hành, thực tập được xác định là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản, là khâu có ý nghĩa quyết định nâng cao chất lượng dạy học nghề nghiệp cho học viên. Thực hành, thực tập vừa là con đường, vừa là cách thức, biện pháp hiệu quả để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của quá trình dạy học” [83, tr. Đồng thời, đề tài cho rằng, nội dung thực tập của học viên Trường Sĩ quan Chính trị trên cương vị chức trách chính trị viên gồm “Công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, cụ thể: Lập kế hoạch, chương trình công tác đảng, công tác chính trị; lên lớp chính trị phân tích tình hình tư tưởng; thông báo chính trị; tổ chức thi đua, diễn đàn, mạn đàm, tọa đàm, công tác chi đoàn; các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện, hành quân dã ngoại làm công tác dân vận” [83, tr.