Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam Cũng giống như hệ thống phân loại Linh trưởng trên thế giới, phân loại linh trưởng ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1: Tổng kết phân loại thú Linh trưởng ở Việt Nam theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) Mặc dù có sự khác nhau về quan điểm, các tác giả đều cơ bản thống nhất rằng Linh trưởng Việt Nam có 3 họ chính: họ Cu li (Loridae), họ khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae); số loài và phân loài dao động từ 24 đến 25. Trong hệ thống phân loại của Roos (2004) và Groves (2004) [13] đã xếp một số phân loài trước đây thành các loài riêng biệt và đưa ra hệ thống phân mới cho Linh trưởng Việt Nam. Đây là hệ thống phân loại phản ánh đầy đủ phân loại học của thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoa học đang sử dụng rộng rãi (bảng 1.2: Phân loại khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam Tên loài TT Phổ thông Khoa học 1 Cu li lớn Nycticebus bengalensis 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus 3 Khỉ cộc Macaca arctoides 4 Khỉ mốc Macaca assamensis 5 Khỉ đuôi lợn Macaca leonine 6 Khỉ vàng Macaca mulatta 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis 8 Voọc xám Trachypithecus crepusculus 9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus 10 Voọc gec manh Trachypithecus germaini 11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi 12 Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus 13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus 15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus 20 Vượn đen tuyền Nomascus concolor 21 Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus 22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 23 Vượn siki Nomascus siki 24 Vượn má hung Nomascus gabriellae (Nguồn: Grove, 2004) 5 Trong các quan điểm phân loại học Thomas geissmann, Nguyễn Xuân Đặng (2000) [15], Phạm Nhật (2002) [14], hay của Roos và Grove (2004) đều cho rằng ở Việt Nam loài Nomascus gabriellae là Vượn má hung hay Vượn má vàng và chỉ có một loài phân bố chủ yếu ở Phía Nam Việt Nam.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới đây nhất của Văn Ngọc Thịnh (2010) [40], Roos (2011) đã thống nhất xác định loài Nomascus gabriellae bao gồm hai loài khác nhau là: Vượn má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis) và Vượn má vàng phía Nam (Nomascus gabriellae). Theo đó, ở nước ta hiện nay có 6 loài Vượn và đều thuộc về giống Vượn mào (Nomascus). Họ vượn - Hylobatidae Các loài Vượn gộp chung thành họ Vượn (Hylobatidae) được gọi là khỉ giả nhân nhỏ, phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam Á (Thomas geissmann et al, 2000). Chúng đặc trưng bởi lối vận động, cấu trúc xã hội và thông tin liên lạc.
Các loài vượn sống hoàn toàn trên cây và ăn quả là chủ yếu, sự đu tay tạo ra sự chuyển động đặc thù, tập tính treo thân độc đáo và tư thế đứng thẳng thường xuyên, thể hiện sự chuyên hóa cao độ đối với môi trường và chế độ ăn hàng ngày của chúng. Các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm Symphalangus và Hylobates. Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ vượn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 (Thomas geissmann et al, 2000) (xem bảng 1.3: Các loài thuộc họ Hylobatidae Số lượng bộ Giống Loài và phân loài Vùng phân bố nhiễm sắc thể Assam, Bunopithecus 38 B.
hoolock Banglades, Trung Quốc H. agilis Đông Sumatra H. agilis albibarbis Phía đông Borneo H. klossii Đảo Mentawai H.
lar Bắc Thái Lan H. molocch Tây Giava Hylobates 44 H. muelleri Tây Borneo H. muelleri abbotti Tây bắc Borneo H.
muelleri funereus Bắc Borneo Đông Thái Lan, H. pileatus Campuchia Symphalangus 50 S. syndactylus Bán đảo Malay Bắc Việt Nam, N. nasutus Bắc Việt Nam N.
hainanus Đảo Hải Nam Nam Việt Nam, Nomascus 52 N. gabriellae Bắc Lào, Tây Capuchia N.leucogenys Lào, Bắc Việt Nam, Nam Yunan Trung Lào, miền N. Siki trung Việt Nam Nguồn (Geissmann và cs. Một số đặc điểm của giống Nomascus Đặc điểm sinh học, sinh thái Kích thước cơ thể: những cá thể vượn mào hoang dã có trọng lượng cơ thể trung bình là 7 - 8 kg, nặng tương đương với trọng lượng của giống Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lượng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lượng của giống Symphalangus (khoảng 11kg) (Thomas geissmann et al, 2000) [15].
Đặc điểm sọ: Trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt phẳng. Số lượng bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52 Đặc điểm hình thái: Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trưởng thành có đám lông đen trên đầu tương phản với phần lông màu nhạt ở xung quanh. Có sự lưỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở những cá thể trưởng thành: con đực thường có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thường có mảng lông chẩm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tương tự như màu của con đực trưởng thành.
Đến thời gian trưởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trưng của con cái trưởng thành (Grove, 2001) [24]. Giống Nomascus có bao nhiêu loài? Cũng giống như theo phân loại học về thú Linh trưởng, các tác giả khác nhau cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về số lượng loài thuộc giống Nomascus. Theo Thomas geissmann et al (2000) [15] bao gồm 5 loài: 8 1. Vượn đen (chưa định tên) Nomascus.
Vượn đen tuyền (Nomascus concolor) 3. Vượn má trắng siki (N. gabriellae) Đến năm 2002, Phạm Nhật [14] đã đưa ra quan điểm tương đối đồng nhất với Thomas geissmann. Số loài thuộc giống Nomascus gồm 5 loài, chỉ khác là Vượn đen hải nam (Nomascus concolor ssp) được thay cho Vượn đen (chưa định tên) và tên khoa học của Vượn đen tuyền là (Nomascus concolor concolor) thay cho (Nomascus concolor).
Năm 2004, Grove [25] trong bảng phân loại thú Linh trưởng, tác giả vẫn giữ nguyên 5 loài Vượn thuộc giống Nomascus theo phân loại của Phạm Nhật. Tuy nhiên, tên khoa học một số loài đã có sự thay đổi. Vượn đen tuyền Nomascus concolor Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys Vượn siki Nomascus siki Vượn má hung Nomascus gabriellae Văn Ngọc Thịnh et al. (2010) [40] thông qua tổng hợp các nghiên cứu mới nhất tại Việt Nam đã đưa ra kết luận có 6 loài thuộc giống Nomascus được liệt kê gồm: 1.
Vượn đen tuyền Nomascus concolor 2. Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus 3. Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 4. Vượn siki Nomascus siki 5.
Vượn má vàng phía bắc Nomascus annamensis 6. Vượn má vàng phía nam Nomascus gabriellae 9 Vùng phân bố của giống Nomascus Vượn mào – Nomascus chỉ phân bố ở Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào, phía Đông Campuchia và Tây - Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam), sông Mê Kông là giới hạn phía tây của các vùng phân bố của chúng và ngăn cách chúng với giống Hylobates (Geissmann, 2007). Những khu vực phân bố hiện nay đã bị chia cắt mạnh gồm những mảnh rừng ít nhiều còn nguyên sinh, biệt lập và nhỏ (hình 1.1: Phân bố của các loài Vượn thuộc giống Nomascus 10 1. Một số đặc điểm của Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) Đặc điểm nhận biết Vượn má vàng phía nam có đặc điểm và hình dạng giống Vượn siki.
Con đực có bộ lông dày, màu đen tuyền. Điểm khác quan trọng là có hai đám má lông màu vàng nhạt, màu mơ hoặc màu cam, không trắng thuần khiết. Kích thước đám lông này nhỏ và cao dưới nửa vành tai. Đám lông vàng cam quanh hai gốc mép có hình dấu ngoặc đơn (giống Vượn siki), lông mọc chỉa ra hướng má.
Lông ngực màu nâu nhạt, bộ lông con cái màu vàng nhạt, vàng mơ hoặc vàng chanh. Phần bụng, ngực thưa lông và sáng như phần lưng. Lông trán vàng đậm. Lông chỏm đầu đen và nhạt ở phần gáy.
Lông má mọc hướng ra ngoài. Lông méo mọc xòe ra hướng má. Da mặt thường sáng màu. Vượn con mới đẻ, cả đực và cái đều có lông màu vàng nhạt.
(Nguồn:http://www.org/buff-cheeked-gibbon/nomascus gabriellae) Hình 1.2: Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) 11 Sinh thái và tập tính Vượn má vàng phía nam chủ yếu sống trong rừng thường xanh trên núi đất, nhiều lúc thấy Vượn má vàng phía nam kiếm ăn trong các khu rừng khộp. Giống Vượn siki và Vượn má vàng sống theo gia đình nhỏ 2 – 4 cá thể gồm thế hệ bố mẹ, con cái các lứa tuổi. Hoạt động hàng ngày vào buổi sáng và chiều. Trưa nghỉ và thường bắt đầu một ngày mới bằng những bản nhạc đồng ca trước khi mặt trời mọc.
Hầu hết vào các ngày trời mưa, Vượn không hót vào buổi sáng. Vượn kiếm ăn chủ yếu trên cây, cường độ kiếm ăn mạnh vào đầu buổi sáng và cuối buổi chiều. Thức ăn là trái cây, lá non của nhiều loài cây rừng. Về sinh sản, thường bắt gặp Vượn mẹ mang con nhỏ từ tháng 3 đến tháng 6.
Phân bố Vượn má vàng phía nam phân bố ở Đông Bắc Campuchia, Nam Lào, và phía Nam Việt Nam. Ở nước ta, Vượn má vàng đã được ghi nhận ở các địa phương: Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai và Bình Phước. Hiện trạng bảo tồn Vượn má vàng phía nam tuy được phân bố ở nhiều địa phương nước ta nhưng do bị săn bắn, diện tích rừng trong vùng Vượn phân bố bị giảm sút, nạn khai thác gỗ trái phép đang làm số lượng của loài bị suy giảm nghiêm trọng. Sách đỏ thế giới (IUCN, 2012) và Sách đỏ Việt Nam (2007) đã xếp loài vào cấp nguy cấp (EN), loài cũng có tên trong phụ lục I của CITES (2008) và phụ lục IB của Nghị định 32 năm 2006 [23, 1, 10].