CHƯƠNG I THỰC TRẠNG CÔNG TRÌNH ĐÊ BIỂN VIỆT NAM VÀ TỈNH NAM ĐỊNH 1. Thực trạng công trình đê biển Việt Nam Tuyến đê biển của Việt Nam hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ mùa màng, tài sản và hơn hết là tính mạng con người. Chính vì vậy, việc xây dựng các công trình trên tuyến đê biển cũng như chất lượng của các công trình này mang ý nghĩa rất to lớn, giúp chúng ta chống lại những tác động tiêu cực từ biển. Nếu không làm tốt công tác này, thì sẽ không kiểm soát được những tác động tiêu cực từ biển với sức tàn phá ghê gớm và để lại những hậu quả không đo đếm được.
Chính vì vậy, Nhà nước ta đã có những chương trình, dự án nhằm củng cố, nâng cao hơn nữa chất lượng tuyến đê biển và các công trình liên quan. Thực trạng đê biển Việt Nam đã được trình bày rất cụ thể trong các tài liệu [2][3]. Các trọng điểm xung yếu trên các tuyến đê biển như: khu vực đê trước đây quá xung yếu, thường xuyên bị sạt lở, hư hỏng, khu vực trước đê bị xói lở hạ thấp làm ảnh hưởng đến an toàn đê… cơ bản đã được đầu tư cũng cố, nâng cấp đảm bảo an toàn với mức tiêu chuẩn thiết kế, đã đáp ứng được mục tiêu đặt ra. Đối với các khu vực có thổ nhưỡng, bùn cát và sóng gió, thủy triều không thuận lợi cho việc trồng cây chắn sóng cũng đã có những nghiên cứu, áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ cho trồng cây đạt hiệu quả nhất định, góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống đê biển đồng bộ, bền vững, ổn định, kết hợp đa mục tiêu.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì vẫn tồn tại một số mặt hạn chế, bất cập như sau: 4 Do thân đê chủ yếu đắp bằng đất tại chỗ, lại thường xuyên chịu tác động của gió bão, thủy triều và các hoạt động dân sinh ., nên mặc dù được đầu tư tu bổ thường xuyên nhưng do hạn chế về kinh phí, đê nhanh bị xuống cấp và thường xuyên hư hỏng khi có mưa bão, phải xử lý rất vất vả tốn kém. Một số khu vực biển tiến, rừng phòng hộ trước đê bị xâm hại, đê biển thường xuyên bị sạt lở, hư hỏng như đê Hà Nam - Quảng Ninh; đê biển Cát Hải, Đồ Sơn, Vinh Quang, Cầm Cập - Hải Phòng; đê biển Hải Hậu, Giao Thủy - Nam Định; đê biển Y Vích, Hậu Lộc - Thanh Hóa,. Đặc biệt, trong năm 2005, vùng ven biển nước ta liên tiếp chịu ảnh hưởng trực tiếp của các cơn bão số 2, số 6 và số 7 với sức gió mạnh cấp 11, cấp 12, giật trên cấp 12 vượt mức thiết kế của đê biển, bão số 7 lại đổ bộ vào đúng thời kỳ triều cường (là tổ hợp bất lợi ít gặp) làm những nơi trước đê không có cây chắn sóng, những nơi biển tiến, nơi đê trực diện biển đã bị nước biển tràn qua làm sạt lở trên 54 km đê thuộc Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, làm vỡ một số đoạn thuộc các tuyến đê biển Cát Hải (Hải Phòng), đê biển Hải Hậu, Giao Thủy (Nam Định) với tổng chiều dài 1.465m, làm thiệt hại nghiêm trọng về sản xuất, ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế của nhân dân. Do chưa qui hoạch kết hợp đê với đường giao thông, nên quy mô, kích thước đê không thống nhất, mặt đê gia cố chưa liên tục hoặc tuyến đê chưa chú ý vi chỉnh, cắt cong theo tiêu chuẩn thiết kế đường giao thông, nên đê còn nhiều khúc cua gấp khúc; chưa đề cập đến khoảng cách tối thiểu giữa đường giao thông và đê biển trong trường hợp ở gần nhau và điều kiện kết hợp vừa đường giao thông vừa là đê biển.
Mặt đê được gia cố chủ yếu phục vụ công tác kiểm tra, ứng cứu, hộ đê kết hợp giao thông đi lại của nhân dân, nên tải trọng của các phương tiện giao thông còn bị hạn chế… Do chưa có một quy hoạch thống nhất với nhiều ngành và sử dụng đa mục tiêu, nên diện tích trồng cây chắn gió, trồng cây ngập mặn chắn sóng bảo 5 vệ đê trong những năm qua đạt hiệu quả thấp. Mặt khác, các địa phương không gắn được việc bảo vệ, phát triển cây ngập mặn chắn sóng, cây trên cát chắn gió ven biển với chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn lợi thủy sản, cải thiện môi trường ven biển gắn với phát triển du lịch sinh thái., nên diện tích cây trồng bảo vệ đê biển nhiều nơi không những không phát triển, mà còn bị suy giảm theo thời gian. Do chưa có sự thống nhất và chuẩn hóa việc sử dụng các cấu kiện bảo vệ mái đê phía biển, kết cấu chân khay cả về hình thức và kích thước cơ bản, dẫn đến việc nhiều công trình xây dựng trước năm 2010 áp dụng các loại cấu kiện bảo vệ mái, kết cấu chân khay khác nhau và chưa phù hợp với thực tế từng đoạn bờ biển, nên hiệu quả còn thấp hoặc còn gây lãng phí không đáng có. Các tuyến đê biển, đê cửa sông chưa khép kín, nhiều đọan đê còn thiếu cầu, cống, do đó chưa chủ động trong tiêu úng, tiêu phèn, hạn chế hiệu quả ngăn mặn, giữ ngọt, chưa đáp ứng yêu cầu nuôi trồng thủy sản, chưa đảm bảo yêu cầu kết hợp giao thông ven biển.
Công tác củng cố và nâng cấp đê biển trong giai đoạn vừa qua chưa tính đến yếu tố biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng (Theo công bố của Bộ tài nguyên và Môi trường, đến năm 2050, thì mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu có thể dâng cao là 0.33m và trong điều kiện BĐKH bão, lũ có xu thế ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ), ảnh hưởng trực tiếp tới tính toán kết cấu hệ thống đê về cao trình, cũng như kết cấu của từng đoạn đê được rừng ngập mặn bảo vệ, chưa chuẩn hóa được cấu kiện bảo vệ mái đê phía biển cả về hình thức và kích thước cơ bản, dẫn đến việc các địa phương áp dụng nhiều loại cấu kiện khác nhau. Chưa nghiên cứu chi tiết khi đầu tư các công trình chống sóng gây bồi. 6 Đê nằm sâu trong khu dân cư, trong khi dân ra ngoài sinh sống, sản xuất từ nhiều năm nay nhưng không được bảo vệ như đoạn qua thị trấn Diêm Điền của đê biển 8 (Thái Bình) Đê nằm sâu trong khu vực được bồi đắp nhiều năm rất rộng lớn, cần có tuyến đê quai phía ngoài phục vụ phát triển kinh tế, giao thông đi lại, cũng như mở mang diện tích cho tỉnh như đoạn từ K26+700 (cống Thụy Xuân 1) đến K31+700 (tại cống Quang Lang, tiếp giáp với cảng cá Tân Sơn), đoạn qua xã Điện Biên, Giao Thủy (Nam Định), tuyến đê Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa… 1. Thực trạng đê biển tỉnh Nam Định và các công trình liên quan 1.
Thực trạng đê biển tỉnh Nam Định Thực trạng để biển tỉnh Nam Định đã được trình bày rất cụ thể trong các tài liệu [2][3]. Nam Định có 91 km đê biển, đê cửa sông. Đã thực hiện nâng cấp được 45 km. Mặt đê rộng 4-5 m kết cấu BT M250 dày 20 cm đối với các đoạn đã nâng cấp, tường chắn sóng cao trình từ +5.5, kết cấu BTCT hoặc đá xây.
Mái phía biển được gia cố bằng CKBT, tấm BT…Đối với những khu vực xung yếu có làm kè mỏ hàn giữ bãi, bảo vệ bờ (Cống Thanh Niên:14 kè mỏ hàn, kè Kiên Chính:9 kè mỏ hàn, Hải Thịnh:5 kè mỏ hàn; Nghĩa Phúc:18 kè mỏ hàn). Khu vực Cồn Lu, Cồn Ngạn, Cồn Xanh đều trồng cây chắn sóng. Nhiều đoạn thuộc tuyến đê huyện Hải Hậu, Giao Thuỷ thuộc tỉnh Nam Định đang đứng trước nguy cơ bị vỡ (nếu xảy ra bão vượt tần suất thiết kế) do bãi biển liên tục bị bào mòn, hạ thấp gây sạt lở chân, mái kè bảo vệ mái đê biển, đe doạ trực tiếp đến an toàn của đê biển. Một số đoạn trước đây có rừng cây chắn sóng bị phá huỷ, nay trở thành trực tiếp chịu tác động của sóng, thuỷ triều, nên nếu không được bảo vệ, sẽ có nguy cơ vỡ bất cứ lúc nào.
Nhiều đoạn trước đây có 2 tuyến khi tuyến đê ngoài được nâng cấp tạo tâm lý chủ quan, tuyến 2 không được chú ý đầu tư thích đáng nên nay đang bị xuống cấp 7 nghiêm trọng và hiện chỉ là bờ bao nhỏ có cao độ rất thấp.Nếu tuyến đê ngoài bị vỡ, tuyến 2 không còn khả năng bảo vệ sản xuất, tính mạng và tài sản nhân dân vùng bảo vệ. Hệ thống đê tuyến 2 huyện Giao thuỷ được đắp năm 1986 -:- 1987. Từ đó đến nay tuyên đê này không được tu bổ củng cố nên bị bào mòn, hạ thấp không đảm bảo chống bão khi tuyến 1 không giữ được. Tại những vị trí xung yếu đê biển Nam Định hình thành 2 tuyến, tuyến 1 đang được củng cố nâng cấp, tuyến 2 chưa được củng cố.
Tuyến 2 đê biển Huyện Giao Thủy: Tổng chiều dài: 8.900m gồm Hệ thống đê tuyến 2 huyện Giao thuỷ được đắp năm 1986 -:- 1987. Từ đó đến nay tuyến đê này không được tu bổ củng cố, nên bị bào mòn, hạ thấp không đảm bảo chống bão khi tuyến 1 không giữ được. Đoạn tuyến 2 Giao Hải- Giao Long dài 4. Bề rộng mặt đê B= 3 m Cao trình mặt đê +2.50, Mái phía biển m = 2 và mái phía đồng m=2.
Sau khi đắp không có điều kiện xây dựng đập Giao Long để tiêu nước ra sông Nguyễn Văn Bé từ đó tiêu qua các cống Cai Đề và Cống số 9. Vì vậy tuyến 2 không khép tuyến không có tác dụng ngăn chặn nước biển tràn vào khi vỡ tuyến 1. Đoạn đê tuyến 2 CổVạy đắp năm 1986 dài 2.000m, đến năm 1996 được tu bổ nâng cao với chỉ tiêu thiết kế : Bề rộng mặt đê B = 5m, cao trình mặt đê + 4.50, mái phía biển m= 3 và mái phía đồng m= 2. Đây là đoạn đê phát huy tác dụng tốt trong bão số 7.Nếu không có đoạn đê này nước biên đã tràn sâu vào đất liền trong bão số 7.
Đê tuyến 2 Bạch Long đắp năm 1986 dài 2.000m với các chỉ tiêu thiết kế : Bề rộng mặt đê B= 3 m, Cao trình mặt đê +2.50, Mái phía biển m= 2 và mái phía đồng m=2. Đến nay vẫn giữ nguyên hiện trạng chưa được tu bổ củng cố. 8 Tuyến 2 đê biển Huyện Hải Hậu: Tổng chiều dài 9.