Tổng quan nghiên cứu
Khu vực duyên hải Nam Trung Bộ nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng luôn coi nông nghiệp là trụ đỡ kinh tế cốt lõi với lực lượng lao động nông nghiệp chiếm trên 76% và đóng góp hơn 21% tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) toàn tỉnh. Trong bức tranh phát triển chung đó, huyện miền núi Đông Giang nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Quảng Nam sở hữu vị trí chiến lược tiếp giáp thành phố Đà Nẵng, có tổng diện tích tự nhiên đạt 81.263,23 ha cùng quy mô dân số 24.361 người. Địa bàn huyện có nét đặc thù xã hội rõ nét khi đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Cơ Tu, chiếm tới 73,21% dân số và tỷ lệ dân cư sinh sống tại khu vực nông thôn lên tới 81,42%.
Mặc dù tổng giá trị sản xuất toàn nền kinh tế huyện giai đoạn 2004-2010 duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao ở mức 12,56%/năm, đạt quy mô 111,39 tỷ đồng vào năm 2010, nhưng thực trạng sản xuất nông nghiệp tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Quỹ đất quy hoạch cho nông nghiệp chiếm tới 70.500,08 ha (tương đương 86,75% diện tích tự nhiên), song diện tích đất thực tế đưa vào sản xuất nông nghiệp chỉ đạt 4.225,58 ha, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 5,24%. Hoạt động canh tác chủ yếu mang tính chất tự cung tự cấp, phụ thuộc tự nhiên, tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao và cơ cấu kinh tế nội ngành chuyển dịch chậm.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp hàng hóa, đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng tại Đông Giang giai đoạn 2004-2010, nhận diện nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao đến năm 2020. Đề tài đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc giúp địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, gia tăng giá trị sản xuất và nâng cao thu nhập bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển thông qua hàm sản xuất Cobb-Douglas với dạng phương trình hàm ý: tốc độ tăng sản lượng trên lao động phụ thuộc vào tốc độ tăng vốn trên lao động và tốc độ gia tăng của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Trong bối cảnh nguồn lực đất đai và vốn đầu tư công tại vùng miền núi còn hạn chế, việc gia tăng chỉ số TFP thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển giao giống mới và nâng cao chất lượng lao động là con đường tất yếu để chuyển đổi từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu.
Bên cạnh đó, tác giả vận dụng sâu sắc lý thuyết chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và lý thuyết phát triển nông nghiệp hàng hóa được đúc kết bởi các nhà khoa học kinh tế nông nghiệp hàng đầu Việt Nam. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý đòi hỏi sự chuyển dịch tích cực: giảm tỷ trọng trồng trọt tự túc, tăng nhanh tỷ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; chuyển đổi mạnh mẽ từ cây lương thực truyền thống năng suất thấp sang cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và cây dược liệu có giá trị thương mại cao.
Ngoài ra, khung phân tích tích hợp lý thuyết liên kết kinh tế chuỗi giá trị bao gồm liên kết ngang (giữa các hộ nông dân hình thành tổ hợp tác, hợp tác xã) và liên kết dọc (giữa nông hộ, hợp tác xã với doanh nghiệp thu mua, chế biến và phân phối). Bốn khái niệm trọng tâm xuyên suốt công trình gồm:
- Nông nghiệp hàng hóa: Hình thức sản xuất lấy việc trao đổi, mua bán nông sản trên thị trường làm mục tiêu chính thay vì chỉ tiêu dùng nội bộ.
- Trình độ thâm canh: Mức độ đầu tư tập trung vốn và lao động sống trên một đơn vị diện tích nhằm tối đa hóa sản lượng với chi phí bình quân thấp nhất.
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp: Sự thay đổi về tỷ trọng giá trị sản xuất và quan hệ kinh tế giữa các phân ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ.
- Năng suất nhân tố tổng hợp: Phần gia tăng sản lượng nông nghiệp đạt được nhờ tiến bộ công nghệ, kỹ năng quản lý và chất lượng nguồn nhân lực.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng hệ thống dữ liệu thứ cấp thu thập toàn diện từ Niên giám thống kê huyện Đông Giang, các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện giai đoạn 2004-2010 và Quy hoạch nông nghiệp huyện Đông Giang định hướng đến năm 2020. Để bổ trợ cho dữ liệu thứ cấp, tác giả triển khai điều tra thực địa với cỡ mẫu khảo sát gồm 170 đối tượng, bao gồm 50 cán bộ quản lý nông nghiệp từ cấp huyện đến 11 xã, thị trấn và 120 hộ nông dân sản xuất nông nghiệp đại diện.
Phương pháp chọn mẫu áp dụng là kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp chọn mẫu có chủ đích. Việc phân tầng dựa trên 3 tiểu vùng địa hình và khí hậu sinh thái đặc trưng của huyện Đông Giang (vùng núi cao trên 1000m, vùng trung từ 500 đến 1000m và vùng núi thấp dưới 500m) nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho mọi tập quán canh tác và điều kiện thổ nhưỡng.
Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp phân tích thực chứng, phân tích chuẩn tắc, thống kê mô tả chuỗi thời gian, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và phương pháp tổng hợp chuyên gia. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ tính chất phức tạp của địa bàn miền núi bị chia cắt mạnh, đòi hỏi vừa phải lượng hóa chính xác các biến số kinh tế qua các năm, vừa phải đánh giá sâu sắc các yếu tố tập quán văn hóa xã hội của đồng bào Cơ Tu tác động đến năng suất lao động.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô kinh tế nông nghiệp tăng trưởng liên tục nhưng nội ngành chuyển dịch chưa thực sự bứt phá. Giai đoạn 2004-2010, giá trị sản xuất khu vực nông lâm thủy sản tăng từ mức thấp lên 54,52 tỷ đồng vào năm 2010, đóng góp 48,94% vào tổng giá trị sản xuất 111,39 tỷ đồng của toàn huyện. Tuy vậy, trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng chi phối tuyệt đối trên 70%, ngành chăn nuôi chỉ đóng góp khoảng 20-25% giá trị sản xuất, chưa tạo ra được mũi nhọn kinh tế đột phá.
Thứ hai, tiềm năng đất đai lâm nông nghiệp vô cùng to lớn nhưng hiệu quả sử dụng thực tế chưa tương xứng. Toàn huyện có 81.263,23 ha đất tự nhiên, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 66.200 ha (tỷ lệ 81,43%), tỷ lệ che phủ rừng đạt 64,08% với 52.078,50 ha đất có rừng. Đặc biệt, đất có độ dốc dưới 15 độ chiếm 65,35% diện tích tự nhiên và tầng đất dày trên 100cm chiếm 62,2%, tạo điều kiện cực kỳ lý tưởng cho phát triển cây công nghiệp dài ngày. Tuy nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp thực tế chỉ vỏn vẹn 4.225,58 ha (5,24%), trong khi đất chưa sử dụng còn tồn đọng tới 8.024,09 ha (chiếm 9,87% tổng diện tích tự nhiên).
Thứ ba, nguồn lực lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo nhưng chất lượng chuyên môn còn rất thấp. Trong tổng số 11.003 người thuộc lực lượng lao động toàn huyện (chiếm 45,71% dân số), lao động nông lâm thủy sản chiếm tới 8.263 người, tương đương 75,09%. Mặc dù vậy, toàn huyện chỉ có 226 người có trình độ đại học và 634 người có trình độ cao đẳng, trung cấp làm việc trong các ngành kinh tế. Tại cấp xã, phần lớn cán bộ phụ trách nông nghiệp đều chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản mà chủ yếu do cán bộ kiêm nhiệm.
Thứ tư, phương thức sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên và hạ tầng kỹ thuật yếu kém. Trong tổng số 70.500,08 ha đất nông nghiệp, có tới 86,8% diện tích thuộc nhóm đất chua đến rất chua và 88,17% diện tích có hàm lượng mùn từ nghèo đến rất nghèo. Người dân chưa có thói quen bón phân cân đối, đầu tư thâm canh còn hạn chế. Đàn gia súc phần lớn nuôi theo hình thức chăn thả tự do, thiếu hệ thống chuồng trại đạt chuẩn, dẫn đến nguy cơ dịch bệnh cao và giá trị thương phẩm thấp.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên xuất phát từ sự tương tác phức tạp giữa điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và rào cản nhận thức văn hóa. Về mặt địa hình, huyện Đông Giang có độ cao chênh lệch lớn với cao độ bình quân +700m, bị chia cắt sâu bởi hệ thống sông Kôn (lưu lượng lũ 21 m3/s), sông A Vương (lưu lượng lũ 25 m3/s) và sông Vàng (lưu lượng lũ 25 m3/s). Lượng mưa trung bình năm rất cao lên tới 2.650mm tập trung vào cuối năm thường xuyên gây ra lũ quét, sạt lở đất và xói mòn tầng đất mặt. Thêm vào đó, tập quán quảng canh lâu đời của 73,21% đồng bào Cơ Tu chưa thích ứng kịp với các quy luật thị trường hàng hóa.
Các dữ liệu nghiên cứu về biến động cơ cấu giá trị sản xuất và phân bố 11 nhóm đất chính có thể được trực quan hóa thông qua các biểu đồ phân tích chuyên sâu. Cụ thể, việc sử dụng biểu đồ cột chồng kết hợp đường xu hướng giúp phản ánh rõ nét tốc độ tăng trưởng 12,56%/năm của giá trị sản xuất toàn huyện, đồng thời làm nổi bật sự chênh lệch lớn giữa diện tích đất lâm nghiệp (81,43%) so với đất sản xuất nông nghiệp (5,24%). Thông qua bảng ma trận so sánh các nhóm đất, có thể thấy nhóm đất đỏ vàng trên đá Macma axit (34.253 ha) và đất đỏ vàng trên đá phiến sét (27.553 ha) chiếm trên 76% diện tích, khẳng định tiềm năng chuyển đổi sang cây lâu năm là hoàn toàn khả thi nếu có giải pháp khử chua và bổ sung dinh dưỡng phù hợp.
So sánh với các nghiên cứu trước đây về phát triển nông nghiệp miền núi, kết quả tại Đông Giang khẳng định quan điểm của các chuyên gia kinh tế nông nghiệp: Tăng trưởng nông nghiệp miền núi không thể chỉ dựa vào mở rộng diện tích cây lương thực ven sông suối mà bắt buộc phải dựa vào kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại và nông lâm kết hợp theo mô hình vườn ao chuồng rừng.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, tái cấu trúc không gian sản xuất và quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng chủ lực. Ủy ban nhân dân huyện Đông Giang cần chủ trì phê duyệt quy hoạch chi tiết 3 tiểu vùng kinh tế sinh thái. Mục tiêu cụ thể là khai thác tối thiểu 2.500 ha trong tổng số 8.024,09 ha đất chưa sử dụng để mở rộng diện tích trồng cây cao su, chè chuyên canh, cây ăn quả đặc sản và dược liệu dưới tán rừng trong giai đoạn 2015-2020.
Thứ hai, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi hàng hóa tập trung và cơ giới hóa nông nghiệp. Trạm Khuyến nông - Khuyến lâm phối hợp với Trạm Thú y huyện triển khai chương trình cải tạo đàn bò địa phương bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, phấn đấu nâng tỷ lệ đàn bò lai lên 40% và nâng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 30-35% trong cơ cấu nông nghiệp vào năm 2020. Hỗ trợ kinh phí xây dựng chuồng trại kiên cố và trồng cỏ voi thâm canh cho ít nhất 1.000 hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuẩn hóa năng lực cán bộ cơ sở. Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật canh tác thực hành cho hơn 3.000 lượt lao động nông thôn hàng năm. Đặt chỉ tiêu đến năm 2018, 100% cán bộ phụ trách nông nghiệp tại 11 xã, thị trấn phải đạt trình độ chuyên môn từ trung cấp nông lâm nghiệp trở lên.
Thứ tư, đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất và thiết lập chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và huyện Đông Giang cần ưu tiên nguồn vốn ngân sách kiên cố hóa hệ thống kênh mương, nâng diện tích tưới tiêu chủ động cho cây hàng năm từ mức dưới 30% lên 60% vào năm 2020. Đồng thời, ban hành chính sách ưu đãi đất đai và thuế để thu hút tối thiểu 3 đến 5 doanh nghiệp chế biến nông lâm sản đầu tư nhà máy liên kết bao tiêu sản phẩm cho nông dân dọc tuyến Quốc lộ 14G nối liền với thị trường tiêu thụ Đà Nẵng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao và là tài liệu tham khảo đắc lực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp huyện, tỉnh: Cung cấp căn cứ thực chứng và hệ thống số liệu chi tiết để Ủy ban nhân dân huyện Đông Giang, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Nam xây dựng kế hoạch hành động thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp đánh giá kinh tế nông nghiệp miền núi, ứng dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas và phân tích liên kết chuỗi giá trị trong điều kiện chuyển đổi kinh tế nông hộ sang kinh tế hàng hóa.
- Doanh nghiệp, hợp tác xã và các chủ trang trại nông nghiệp: Giúp các nhà đầu tư nắm bắt hiện trạng tài nguyên đất đai (với hơn 62% đất có tầng dày trên 100cm), cơ cấu lao động và tiềm năng phát triển vùng nguyên liệu dược liệu, chè, cao su và chăn nuôi đại gia súc tập trung.
- Các tổ chức phi chính phủ và ban quản lý dự án phát triển quốc tế: Cung cấp bức tranh thực tế về sinh kế của 73,21% đồng bào người Cơ Tu phục vụ việc thiết kế, tài trợ các dự án sinh kế bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu và giảm nghèo đa chiều tại miền núi miền Trung.
Câu hỏi thường gặp
Những khó khăn lớn nhất kìm hãm sự phát triển nông nghiệp huyện Đông Giang là gì?
Khó khăn lớn nhất là diện tích đất sản xuất nông nghiệp thực tế chỉ chiếm 5,24% (4.225,58 ha), địa hình dốc trên 15 độ chiếm 34,65% và bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới sông suối. Bên cạnh đó, 75,09% lao động làm nông nghiệp nhưng phần lớn chưa qua đào tạo kỹ thuật, đất đai có tới 86,8% bị chua và nghèo dinh dưỡng, làm hạn chế hiệu quả thâm canh cây trồng.
Tài nguyên tự nhiên của Đông Giang có những lợi thế nổi bật nào để thu hút đầu tư nông nghiệp?
Huyện sở hữu 66.200 ha đất lâm nghiệp với tỷ lệ che phủ rừng đạt 64,08%, cùng 62,2% diện tích đất có tầng dày trên 100cm và 65,35% diện tích có độ dốc dưới 15 độ. Khí hậu nhiệt đới ẩm có tổng nhiệt lượng 7.000 độ C/năm và lượng mưa 2.650mm tạo điều kiện rất thuận lợi để phát triển cây công nghiệp dài ngày, lâm đặc sản và dược liệu quý.
Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp huyện giai đoạn tới cần tập trung vào khâu đột phá nào?
Khâu đột phá trọng tâm là giảm tỷ trọng trồng trọt tự cấp, tăng nhanh tỷ trọng ngành chăn nuôi đại gia súc và phát triển kinh tế đồi rừng theo mô hình nông lâm kết hợp. Cần chuyển đổi diện tích đất nương rẫy hiệu quả thấp sang trồng chè, cao su và cây ăn quả theo quy hoạch vùng chuyên canh tập trung nhằm gia tăng giá trị hàng hóa xuất bán.
Chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp tại chỗ có thể được nâng cao bằng những giải pháp cụ thể nào?
Địa phương cần mở các lớp đào tạo nghề ngắn hạn gắn liền với mô hình trình diễn thực địa bằng tiếng đồng bào cho người Cơ Tu, kết hợp hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp tại vườn trại. Đồng thời, huyện phải thực hiện chuẩn hóa 100% trình độ chuyên môn kỹ sư nông nghiệp cho cán bộ chuyên trách tại các xã để làm hạt nhân hướng dẫn người dân.
Tại sao mô hình liên kết chuỗi giá trị theo chiều dọc lại đóng vai trò quyết định tại huyện miền núi này?
Do trình độ quản lý của kinh tế nông hộ còn yếu và địa bàn cách xa trung tâm tiêu thụ, liên kết dọc qua hợp đồng bao tiêu với các doanh nghiệp chế biến sẽ giải quyết triệt để bài toán đầu ra bấp bênh. Doanh nghiệp cung cấp giống, vật tư trả chậm và kỹ thuật, nông dân cam kết quy chuẩn chất lượng, giúp ổn định giá nông sản và phòng ngừa rủi ro rớt giá mùa vụ.
Kết luận
- Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh nông nghiệp huyện Đông Giang giai đoạn 2004-2010 với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 12,56%/năm trên tổng diện tích tự nhiên 81.263,23 ha.
- Nhận diện rõ mâu thuẫn cốt lõi giữa tiềm năng đất đai rộng lớn (đất nông nghiệp chiếm 70.500,08 ha) với quy mô đất sản xuất nông nghiệp thực tế còn quá nhỏ bé (chỉ đạt 4.225,58 ha, chiếm 5,24%).
- Khẳng định vai trò quyết định của việc nâng cao chất lượng 8.263 lao động nông nghiệp (75,09% tổng lao động) và cải tạo tập quán canh tác quảng canh của 73,21% đồng bào Cơ Tu.
- Xây dựng hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về quy hoạch vùng sinh thái, phát triển chăn nuôi hàng hóa, đào tạo nhân lực và hoàn thiện hạ tầng liên kết chuỗi giá trị đến năm 2020.
- Các cấp chính quyền địa phương, nhà khoa học và doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay các dự án thí điểm vùng nguyên liệu chuyên canh gắn với bao tiêu sản phẩm trong chu kỳ canh tác tới nhằm tạo bước chuyển biến căn bản, đưa nông nghiệp Đông Giang phát triển bền vững và giảm nghèo hiệu quả.