mở đầu cho các giai đoạn văn minh ngày càng cao của nhân loại. Thời nay, nông nghiệp hiện đại đã vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật. Các sản phâm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt, chất đốt, da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học, lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp. Nghiên cứu về nông nghiệp đã có một số cách định nghĩa như sau: Theo cuốn Nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO thời cơ và thách thức thì “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất bảo đảm những nhu câu thiết yếu nhất, cơ bản nhất của con người.
Nông nghiệp theo nghĩa hep bao gom hai lĩnh vực trông trọt và chăn nuôi, theo nghĩa rộng bao gom 3 linh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp” [42, tr. Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng định nghĩa: “Nông nghiệp là phân ngành trong hệ thống ngành kinh rể quốc dân, bao gom cdc 14 lĩnh vực nông, lâm, diém nghiệp và thuy sản” [58, tr. Trong cuốn Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam có định nghĩa “Nông nghiệp theo nghĩa hep là sản xuất vật chất, sử dụng đất dai và sinh vật làm ra sản phẩm nông nghiệp. Còn theo nghĩa rộng, đó là sản xuất — kinh doanh làm ra thực phẩm nông sản, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp, chế biến, marketing va phân phối thực phẩm nông sản”[9, tr.
Như vậy, có thé hiểu nông nghiệp là toàn bộ những sản phẩm từ quá trình trồng trọt và chăn nuôi. Từ những nghiên cứu và khái niệm được đưa ra về nông nghiệp, chúng tôi đưa ra khái niệm về nông nghiệp như sau: Nông nghiệp là ngành sản xuất ra những sản phẩm nông sản phục vụ đời sống con người, bao gdm chăn nuôi, trồng trọt và sơ chế sau thu hoạch. Nông nghiệp sạch Khái niệm này mới xuất hiện trong những năm gần đây. Tuy nhiên, cũng có những định nghĩa với những khía cạnh khác nhau tùy theo đối tượng, mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề.
Ở luận văn này, chỉ nghiên cứu ở khía cạnh sản xuất nông nghiệp: Theo định nghĩa của Codex Alimentarius, cơ quan Liên hợp quốc giám sát các tiêu chuẩn về lương thực trên thé giới thì “NNS (hay còn gọi là nông nghiệp hữu cơ) là một hệ thong quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu tổng hợp, giảm toi da ô nhiễm không khi, dat và nước, toi wu về sức khỏe và hiệu quả của các cộng đồng sống phụ thuộc lẫn nhau giữa cây trong, vật nuôi và con người” [43, tr. Theo Dương Hồng Dật trong cuốn Nông nghiệp sạch với bảo vệ thực vat, Nxb Nông nghiệp, năm 1997 định nghĩa “NNS là tiến hành sản xuất nông nghiệp với nhiều cách thức khác nhau với mục đích không gây ra ô nhiễm môi trường và dé tạo ra những sản phâm không mang các chat, các sinh vật có 15 hại cho người sử dụng trước mắt cũng như lâu dai” [11, tr. Năm 1997, một tổ chức bán lẻ ở Châu Âu có tên là Euro — Retailer Produce Working Group, đưa ra khái niệm “sản xuất nông nghiệp tốt” (Good Agricultural Practis, viết tắt và GAP) nên gọi là EurepGAP và sau đó trở thành GlobalGAP được hiểu là việc sản xuất, chế biến có quan tâm đến bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người lao động. Định nghĩa này gần với một số quan điểm khác về NNS.
Cũng có những quan điểm khác nhau cho rang NNS tức là sản xuất ra nông sản, thực phẩm an toàn và phải sạch. Hay như quan điểm của một nhóm người tiêu dùng thì NNS chỉ đơn giản là ngon và lành. Ngon ở đây là chất lượng, mùi vị, mẫu mã và lành chính là an toàn, không gây hại cho sức khỏe. Ngày nay, xu hướng tiêu dùng đều quan tâm đến sức khỏe và an toàn thực phẩm.
Người sản xuất muốn có thị trường phải cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng đúng với thị hiếu, xu hướng tiêu dùng của họ. Đối với thị trường trong nước lẫn thị trường xuất khẩu thì sản phẩm làm ra đều phải được công nhận dat chất lượng vệ sinh môi trường và an toàn thực pham. Trong khái niệm NNS người ta không chú ý nhiều cũng như không giới hạn về cách thức sản xuất nông nghiệp mà đặt trọng tâm chú ý vào sản phẩm của nông nghiệp, vào những hậu quả do nông nghiệp gây ra đối với môi trường. Trên thực tế, hiện nay, do nhu cầu về lương thực và yếu tố lợi nhuận trong sản xuất canh tác, người ta sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật hóa học (bao gồm cả thuốc trừ sâu, thuốc trừ nắm bệnh, thuốc diệt cỏ, các côn trùng gây hại) để tăng năng suất, sản lượng, tăng hiệu suất đất đai.
Đây chính là nguyên nhân gây ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước và tích lũy nhiều chất độc hại, kim loại nặng, nitrat trong nông san. Ở lĩnh vực chăn nuôi, thì lạm dụng thuốc kháng sinh, chất tăng trọng, chất tạo nạc dẫn đến chất lượng thịt không cao, thậm chí “ban”, vật nuôi bị dịch bệnh với số lượng lớn, 16 phân và nước giải của vật nuôi tồn dư nhiều hóa học chất độc hại tấn công môi trường. Ngoài ra, hiện nay, trên thế giới còn có nhiều nước sử dụng trong sản xuất nhiều giống cây chuyển gen. Mặc dù, chuyển gen cũng mang lại nhiều lợi ích như: tăng năng suất và sản lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, nhưng nó mang lại nhiều nguy cơ tiềm ân.
Đó là “vô tình đưa những chất gây dị ứng hoặc làm giảm dinh dưỡng vào thực phẩm, làm phát tán những gen biến nạp trong cây trồng sang họ hoang dại của chúng: có nguy cơ làm tăng cường ở sâu bệnh tính kháng với các chất độc do cây chuyên gen tiết ra tác động có hại lên các loài sinh vật có ích. Trong khí đó, theo tiêu chuẩn của ngành chăn nuôi, thịt sạch, rau sạch và an toàn, khi đến tay người tiêu dùng phải có day đủ các tiêu chuẩn: không có dư lượng thuốc kháng sinh, độc tổ nắm mốc, các kim loại nặng, thuốc trừ sâu, các chất kích thích tăng trưởng bị cắm, các mầm bệnh truyền nhiễm như vi khuẩn, siêu vi, ký sinh trùng,. Như vậy, dé nhận diện NNS thông qua cách thức canh tác với các yếu tố về giống, nguồn nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các chất điều hòa sinh trưởng; thông qua cách thức chăn nuôi với giống, nguồn thức ăn, nước uống chăm sóc. Ngoài ra, sản phâm NNS còn phụ thuộc vào cả khâu thu hoạch, phải đảm bảo vệ sinh và không sử dụng hóa chất bảo quản.
Trong các yêu cầu đối với NNS, người ta không chỉ đề ra những yêu cầu đối với nông sản mà còn có yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với hoạt động của con người trong quá trình sản xuất. Từ những nghiên cứu trên chúng tôi xin đưa ra khái nệm: NNS là kha năng sản xuất nông nghiệp phải sử dụng nguồn nước và đất sạch, không sử dụng giống chuyển gen; tránh hoặc hạn chế sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, các chất sinh trưởng và các chất bảo quản hóa học nham tao ra sản pham an toàn và không gây 6 nhiêm môi trưởng. Phát triển nông nghiệp sạch Theo Tờ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa “phát triển là vận động, tiễn triển theo chiều hướng tăng lên. Ví dụ như phát triển kinh tế, phát triển sản xuất” [45, tr.
Trong lĩnh vực truyền thông phát triển NNS có thể hiểu là việc truyền thông về NNS là dé tạo nên nên nông nghiệp tiến triển theo chiều hướng ngày càng được nâng cao mà không hủy hoại môi trường tự nhiên và cộng đồng, phù hợp với xu thế hiện đại, đáp ứng nhu cầu về nâng cao chất lượng đời sống của con người. Công nghệ truyền thông được coi là lĩnh vực có sức mạnh vượt bậc, góp phần rút ngắn khoảng cách về thông tin, kiến thức về nông nghiệp nông thôn giữa các vùng miền trong cả nước. Chủ trương, đường lối của đảng, chính sách của nhà nước về phát triển nông nghiệp sạch Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 107/2008/QD-TTg Về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn đã yêu cầu: “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chi đạo phát triển sản xuất, chế biến rau, quả, chè an toàn trên phạm vi cả nước; hướng dẫn điều kiện, tổ chức, hoạt động của các tô chức chứng nhận sản xuất rau, quả, chè an toàn theo VIETGAP; giám sát chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm rau, quả, chè an toàn trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ; ban hành tiêu chí về cơ sở hạ tang vùng sản xuất rau, quả, chè an toàn tập trung đáp ứng yêu câu sản xuất theo VIETGAP; bố trí kinh phí, thực hiện hỗ trợ dau tư phát triển sản xuất, chế biến rau, quả, chè an toàn thuộc thẩm quyên cua Bo” [60]. Nam 2010, Chinh phu cho triển khai Dự án QSEAP vay 85 triệu USD vốn ADB hỗ trợ 16 tỉnh, thành phố áp dụng VietGAP trong sản xuất rau, quả, 18 chè an toàn.
Ngày 09/01/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 01/2012/QĐ/TTg Về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Quyết định này quy định một số chính sách hỗ trợ đối với sản xuất, sơ chế các sản phẩm nông lâm thủy sản áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt. Tóm lại, hệ thống canh tác nông nghiệp hữu cơ — NNS đã gây nên sự chú ý ngày càng tăng và trở thành xu hướng phát triển ở nhiều quốc gia trong những năm gần đây, nhất là các nước phát triển, khi mà áp lực lương thực giảm di, trong khi áp lực về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng nông san và môi trường tăng lên.