Tổng quan nghiên cứu

Nhà máy Nhiệt điện Na Dương sở hữu 02 tổ máy với tổng công suất lắp đặt đạt 100 MW, hàng năm đóng góp hơn 700 triệu kWh điện cho lưới điện quốc gia. Tuy nhiên, nhà máy sử dụng nguồn than nâu địa phương có đặc tính kỹ thuật rất phức tạp với hàm lượng lưu huỳnh thực tế lên tới 6,54% và độ tro khô dao động từ 39,6% đến 42%. Quá trình đốt cháy nguồn nhiên liệu này trong lò hơi tầng sôi tuần hoàn phát sinh nồng độ khí thải ô nhiễm rất lớn, trong đó nồng độ SO₂ đo đạc thực tế chạm mức 1.100 mg/Nm³ và nồng độ khí CO đạt 2.200 mg/Nm³, vượt ngưỡng cho phép của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 19:2009/BTNMT và QCVN 22:2009/BTNMT ở mức giới hạn 700 mg/Nm³.

Vấn đề cốt lõi hiện nay là giải pháp khử lưu huỳnh truyền thống bằng cách phun trực tiếp 14,92 tấn đá vôi mỗi giờ vào buồng đốt khiến lò hơi bị quá tải nghiêm trọng, làm suy giảm từ 10% đến 30% công suất thiết kế của tổ máy khi chất lượng than biến động xấu. Trước áp lực đó, đề tài tập trung vào mục tiêu đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh khí thải và thiết kế giải pháp công nghệ khử lưu huỳnh (FGD) kiểu nước đặt ngoài lò sử dụng sữa vôi Ca(OH)₂. Nghiên cứu được triển khai tại thực địa Nhà máy Nhiệt điện Na Dương (xã Na Dương, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn) trong khung thời gian từ tháng 07/2024 đến tháng 07/2025.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua các chỉ số định lượng: nâng cao hiệu suất xử lý SO₂ lên mức trung bình 98,5%, kiểm soát nồng độ khí thải đầu ra duy trì ổn định dưới 200 mg/Nm³, đồng thời giải phóng buồng đốt để tiết kiệm 6,24 tấn than mỗi giờ và thu hồi 3,19 tấn thạch cao thương phẩm mỗi giờ, thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn và bảo đảm an ninh năng lượng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của hai lý thuyết kỹ thuật nhiệt - hóa môi trường:

Thứ nhất là lý thuyết đốt nhiên liệu tầng sôi tuần hoàn (Circulating Fluidized Bed Combustion - CFBC). Mô hình này vận hành ở dải nhiệt độ tối ưu từ 850°C đến 900°C, cho phép tận dụng cơ chế tuần hoàn hạt rắn để tăng thời gian lưu cháy và hạn chế hình thành NO nhiệt từ phản ứng giữa oxy và nitơ trong không khí. Tuy nhiên, việc đưa chất hấp thụ trực tiếp vào buồng đốt ở nhiệt độ này đòi hỏi phản ứng nhiệt phân CaCO₃ thu nhiệt mạnh, tiêu tốn entanpi hữu ích của lò hơi.

Thứ hai là lý thuyết truyền khối màng kép (double-film theory) trong hệ thống khí - lỏng và động học quá trình hấp thụ hóa học có hoàn lưu. Trong tháp hấp thụ kiểu nước, các chất ô nhiễm axit chuyển pha từ dòng khí sang màng chất lỏng kiềm thông qua gradient nồng độ, tiếp xúc với dung dịch sữa vôi Ca(OH)₂ với thời gian lưu tối thiểu đạt từ 3 giây trở lên.

Các khái niệm then chốt cấu thành hệ thống nghiên cứu gồm:

  • Công nghệ khử lưu huỳnh khí thải (Flue Gas Desulfurization - FGD): Hệ thống xử lý ướt tách biệt đặt sau bộ lọc bụi tĩnh điện (ESP) nhằm loại bỏ khí SO₂ và khí axit.
  • Hệ số tỷ lệ mol Ca/S: Chỉ số quyết định lượng tác nhân kiềm cần thiết để trung hòa hoàn toàn lượng lưu huỳnh trong nhiên liệu than đầu vào.
  • Dung dịch sữa vôi hoạt hóa Ca(OH)₂: Tác nhân phản ứng hấp thụ nhanh, chuyển hóa SO₂ thành CaSO₃ rồi oxy hóa cưỡng bức thành thạch cao CaSO₄·2H₂O ổn định.
  • Thiết bị lọc bụi tĩnh điện (ESP): Hệ thống tiền xử lý sử dụng điện trường cao áp ion hóa các hạt bụi mịn có kích thước từ 1 μm trở lên trước khi khí đi vào tháp FGD.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu đa chiều kết hợp giữa điều tra thực địa, tính toán mô phỏng và phân tích số liệu thống kê:

Về quy mô và cỡ mẫu: Tác giả đã tiến hành quan sát và thu thập 30 bộ mẫu khí thải, tro xỉ, đá vôi và bùn thải phân bố đều qua các chu kỳ hoạt động của lò hơi ở các mức tải 70%, 85% và 100% công suất định mức. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu phân tầng theo thời gian và tải vận hành, bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho mọi trạng thái công nghệ của tổ máy phát điện.

Về nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được khai thác từ báo cáo quan trắc định kỳ của nhà máy, hồ sơ thiết kế lò hơi Foster Wheeler (áp suất hơi chính 130 kg/cm², lưu lượng hơi 205 tấn/giờ), kết hợp với nhật trình tiêu hao than trung bình 68,95 tấn/giờ. Dữ liệu sơ cấp được đo đạc trực tiếp tại miệng lò và sau quạt hút IDF bằng máy đo khí đa chỉ tiêu Testo 350, phân tích thành phần hóa học của than, tro xỉ theo phương pháp chuẩn quốc gia TCVN.

Về phương pháp phân tích: Nghiên cứu ứng dụng phương pháp giải bài toán tối ưu cân bằng vật chất - năng lượng dựa trên định luật bảo toàn khối lượng và nhiệt động học phản ứng vôi hóa. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tính toán cân bằng kết hợp đối chiếu thực nghiệm là vì phương pháp này cho phép định lượng chính xác sự thất thoát năng lượng do phản ứng nhiệt phân đá vôi trong lò, làm cơ sở khoa học vững chắc để khẳng định tính ưu việt kinh tế khi chuyển công đoạn khử SO₂ ra bên ngoài buồng đốt. Timeline nghiên cứu được phân kỳ chặt chẽ trong 12 tháng, bắt đầu từ tháng 07/2024 đến tháng 07/2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tế và phân tích kỹ thuật đã đem lại 4 phát hiện mang tính then chốt:

Thứ nhất, việc đốt than nâu Na Dương với độ ẩm 12%, độ tro thực tế 34,8% và lưu huỳnh 6,54% khiến lò hơi phải tiêu thụ tới 14,92 tấn đá vôi mỗi giờ để khử lưu huỳnh trong buồng lửa. Để nhiệt phân lượng đá vôi này thành vôi sống CaO, lò hơi phải tiêu tốn thêm 6,24 tấn than mỗi giờ (tương đương năng lượng nhiệt 23.241 Mcal/giờ). Khi hàm lượng tro trong than tăng lên ngưỡng 38% - 42%, hệ thống thải xỉ đáy lò bị nghẽn tắc, buộc tổ máy phải giảm sâu công suất phát từ 10% đến 30% so với thiết kế 55,6 MW mỗi tổ máy.

Thứ hai, công nghệ xử lý khí thải FGD kiểu nước đặt ngoài lò chứng minh hiệu quả khử lưu huỳnh vượt bậc khi đạt hiệu suất khử SO₂ trung bình tới 98,5%. Nồng độ phát thải SO₂ giảm mạnh từ mức 1.100 mg/Nm³ ban đầu xuống chỉ còn khoảng 200 mg/Nm³, thấp hơn tới 71,4% so với ngưỡng quy định 700 mg/Nm³ của QCVN 19:2009/BTNMT (hệ số Kv = 1,4), tạo ra vùng an toàn môi trường rất cao cho doanh nghiệp.

Thứ ba, hệ số tiêu hao tài nguyên và cân bằng khối lượng của module FGD kiểu nước ngoài lò rất tối ưu. Hệ thống chỉ cần tiêu thụ khoảng 7,97 tấn vôi bột CaO/giờ và 15,94 m³ nước cấp/giờ để vận hành ổn định. Đồng thời, chu trình phản ứng thu hồi được trung bình 3,19 tấn thạch cao tinh khiết (CaSO₄·2H₂O)/giờ, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn làm phụ gia cho ngành sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng.

Thứ tư, hệ thống module FGD kiểu nước mới cho phép xử lý đa thành phần trong cùng một khối thiết bị. Ngoài việc triệt tiêu lưu huỳnh, lượng bụi mịn (PM) còn sót lại sau lọc bụi tĩnh điện ESP được rửa trôi và giữ lại trong pha nước, duy trì nồng độ bụi thoát ống khói luôn dưới 200 mg/Nm³ (chuẩn cho phép là 280 mg/Nm³). Đồng thời, phản ứng tiếp xúc kiềm giúp loại bỏ một phần các khí CO₂ và NOₓ với tỷ lệ suy giảm ghi nhận từ 5% đến 15%, không ghi nhận tình trạng đóng cặn bám dính trong đường ống.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi giúp hệ thống FGD kiểu nước ngoài lò vượt trội hơn so với phương pháp khử lưu huỳnh trong buồng đốt nằm ở cơ chế nhiệt - động học tách biệt. Khi đưa quá trình hấp thụ SO₂ ra ngoài lò hơi, buồng đốt CFB không còn phải cung cấp nhiệt lượng lớn cho phản ứng phân hủy canxi cacbonat (CaCO₃ → CaO + CO₂), qua đó tiết kiệm ngay lập tức 6,24 tấn than mỗi giờ. Điều này giúp hạ nhiệt tải buồng đốt, loại bỏ lượng lớn tro xỉ phát sinh từ đá vôi vụn, phục hồi công suất định mức 205 tấn hơi/giờ cho lò hơi.

Kết quả thu được hoàn toàn tương thích và khẳng định tính vượt trội khi so sánh với các nghiên cứu tiền nhiệm trên thế giới. Điển hình, các nghiên cứu quốc tế của tác giả Patricia Córdoba năm 2015 hay tổng thuật của Jozewicz năm 2001 chỉ ra rằng các hệ thống wet-FGD đá vôi truyền thống thường đạt hiệu suất từ 90% đến 95% và dễ gặp rủi ro cuốn trôi giọt lỏng gây ăn mòn. Trong khi đó, giải pháp module kiểu nước ứng dụng sữa vôi hoạt hóa Ca(OH)₂ tại Na Dương đạt tới 98,5% nhờ tối ưu thời gian lưu khí ≥ 3 giây kết hợp với bộ gia nhiệt khí GGH nâng nhiệt khí sạch, ngăn ngừa hiện tượng ngưng tụ axit gây thủng vỏ ống khói.

Trong thực tế biên soạn báo cáo học thuật, dữ liệu này có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột kép so sánh nồng độ phát thải SO₂, CO, bụi mịn trước và sau xử lý với các mốc giới hạn theo QCVN 19:2009/BTNMT. Đồng thời, một bảng cân bằng vật chất - năng lượng tổng hợp (thể hiện định mức tiêu hao than, đá vôi, vôi sống CaO, nước và lượng thạch cao thu hồi) sẽ giúp làm nổi bật trực quan bài toán kinh tế - kỹ thuật giữa phương án trong lò và ngoài lò.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công nghệ và sớm đưa hệ thống vào vận hành đồng bộ, đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và tổ chức có tính khả thi cao:

  • Triển khai xây dựng và lắp đặt module FGD kiểu nước ngoài lò: Ban Giám đốc Nhà máy Nhiệt điện Na Dương phối hợp cùng các đơn vị tư vấn thiết kế tiến hành thi công hệ thống xử lý khí thải ngoài lò với công suất thiết kế tương ứng 205 tấn hơi/giờ cho từng tổ máy. Mục tiêu đặt ra là kiểm soát nồng độ SO₂ dưới 200 mg/Nm³, hoàn thành nghiệm thu và hòa đồng bộ trong thời gian 18 tháng kể từ khi phê duyệt chủ trương đầu tư.

  • Chuẩn hóa định mức cấp nguyên liệu và kiểm soát vận hành tự động: Phòng Kỹ thuật công nghệ của nhà máy chịu trách nhiệm thiết lập quy trình tự động hóa định lượng chất hấp thụ với chỉ số tiêu chuẩn 7,97 tấn CaO/giờ và 15,94 m³ nước/giờ. Đơn vị cần ứng dụng hệ thống cảm biến đo online CEMS để điều tiết tỷ lệ cấp vôi theo thời gian thực tương ứng với nồng độ lưu huỳnh đầu vào, vận hành liên tục 24/7 từ quý I/2026.

  • Thương mại hóa sản phẩm phụ thạch cao nhân tạo: Phòng Kế hoạch - Kinh doanh của nhà máy chủ động ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn với các nhà máy sản xuất xi măng và tấm thạch cao trên địa bàn các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên và Bắc Giang. Mục tiêu thu hồi và tiêu thụ triệt để 3,19 tấn thạch cao/giờ (khoảng 76 tấn/ngày), chuyển hóa 100% bùn thải rắn thành nguyên liệu tuần hoàn trong vòng 12 tháng sau khi hệ thống đi vào khai thác.

  • Hoàn nguyên phụ tải buồng đốt và giảm tiêu hao nhiên liệu: Tổng Công ty Điện lực - TKV chỉ đạo tối ưu hóa chế độ cháy của buồng đốt CFB khi không còn cấp đá vôi trực tiếp, đưa công suất tổ máy đạt 100% công suất định mức 55,6 MW. Giải pháp này giúp cắt giảm tiêu hao nhiên liệu than tối thiểu 6,24 tấn/giờ, tương ứng giảm phát thải gián tiếp hàng chục nghìn tấn CO₂ mỗi năm, hoàn thành trước năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp khối lượng dữ liệu thực nghiệm giá trị, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  • Ban lãnh đạo và kỹ sư vận hành nhà máy nhiệt điện than: Cung cấp giải pháp kỹ thuật trực tiếp để giải quyết bài toán quá tải xỉ đáy lò, khôi phục công suất tổ máy 55,6 MW khi phải đốt than chất lượng thấp có độ tro từ 40% đến 45%, đồng thời loại bỏ nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính về môi trường do nồng độ SO₂ vượt chuẩn.

  • Kỹ sư thiết kế và tổng thầu EPC môi trường: Sử dụng các công thức tính toán cân bằng vật chất, thông số thủy động học tháp hấp thụ (thời gian tiếp xúc ≥ 3 giây, lưu lượng khói 205 tấn/giờ) làm tài liệu thiết kế module FGD kiểu nước nội địa hóa, giúp giảm chi phí đầu tư hàng chục triệu USD so với việc nhập khẩu nguyên chiếc từ nước ngoài.

  • Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Tài nguyên và Môi trường: Khai thác cơ sở dữ liệu giám sát phát thải khí lò CFB, phương pháp đo đạc CEMS và các giải pháp tuần hoàn phụ phẩm thạch cao nhằm thẩm định đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cấp giấy phép môi trường theo tiêu chuẩn mới tại QCVN 19:2024/BTNMT.

  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật Môi trường: Tài liệu là ca nghiên cứu điển hình (case study) sinh động về công nghệ kiểm soát phát thải đa chất ô nhiễm (SO₂, NOₓ, CO₂, PM), cung cấp phương pháp luận chuẩn mực trong việc tính toán cân bằng năng lượng và nhiệt hóa học công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao phương pháp phun đá vôi trực tiếp vào lò CFB tại Na Dương không còn hiệu quả? Bởi vì than Na Dương chứa hàm lượng lưu huỳnh rất cao (6,54%) và độ tro thực tế lên tới 34,8% - 42%. Việc cấp 14,92 tấn đá vôi/giờ gây nghẽn hệ thống cào xỉ, đồng thời tiêu hao mất 6,24 tấn than/giờ cho quá trình nung vôi, khiến tổ máy bị sụt giảm từ 10% đến 30% công suất thiết kế.

  • Hiệu suất xử lý khí SO₂ của công nghệ FGD kiểu nước đặt ngoài lò đạt mức bao nhiêu? Hệ thống FGD kiểu nước đặt ngoài lò sử dụng sữa vôi Ca(OH)₂ đạt hiệu suất khử lưu huỳnh trung bình 98,5%. Nồng độ khí SO₂ từ mức 1.100 mg/Nm³ ban đầu được xử lý triệt để xuống còn khoảng 200 mg/Nm³, đáp ứng an toàn mức quy chuẩn 700 mg/Nm³ theo QCVN 19:2009/BTNMT.

  • Lợi ích kinh tế lớn nhất từ việc tiết kiệm nhiên liệu than của đề án là gì? Nhờ không phải nung đá vôi trực tiếp trong buồng lửa ở nhiệt độ 850°C, hệ thống giúp tiết kiệm chính xác 6,24 tấn than mỗi giờ (tương đương năng lượng nhiệt 23.241 Mcal/giờ). Lượng than này giúp doanh nghiệp tiết kiệm hàng chục tỷ đồng chi phí nhiên liệu mỗi năm và giảm phát thải CO₂ gián tiếp.

  • Nước thải và chất thải rắn từ hệ thống FGD kiểu nước được xử lý và tuần hoàn ra sao? Hệ thống vận hành theo chu trình khép kín tiêu thụ khoảng 15,94 m³ nước/giờ, toàn bộ nước sau lắng tách được hồi lưu 100% về bể hấp thụ. Đồng thời, quá trình trung hòa sản sinh 3,19 tấn thạch cao tinh khiết/giờ, được ép lọc khô để cung ứng cho các nhà máy sản xuất xi măng, loại bỏ nguy cơ phát sinh bùn thải ô nhiễm.

  • Khí sạch sau khi qua tháp hấp thụ có làm hoen gỉ, ăn mòn ống dẫn và ống khói không? Khí thải sau tháp xử lý được dẫn qua bộ gia nhiệt khí (Gas-Gas Heater - GGH) để tăng nhiệt độ vượt lên trên điểm sương axit. Giải pháp kỹ thuật này ngăn ngừa hoàn toàn tình trạng đọng sương hơi nước mang tính axit, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho kết cấu thép của đường ống dẫn và ống khói nhà máy.

Kết luận

  • Đánh giá chuẩn xác hiện trạng công nghệ đốt than nâu của Nhà máy Nhiệt điện Na Dương với lưu huỳnh cao 6,54%, nồng độ SO₂ phát sinh vượt chuẩn ở mức 1.100 mg/Nm³.
  • Xác định nguyên nhân gây suy giảm từ 10% đến 30% công suất tổ máy là do việc đưa trực tiếp 14,92 tấn đá vôi vào buồng đốt làm quá tải nhiệt và hệ thống cào xỉ.
  • Thiết kế thành công module FGD kiểu nước ngoài lò dùng sữa vôi Ca(OH)₂, nâng hiệu suất khử SO₂ lên 98,5% và đưa nồng độ phát thải xuống dưới 200 mg/Nm³.
  • Tạo bước đột phá về kinh tế kỹ thuật khi tiết kiệm 6,24 tấn than tiêu thụ mỗi giờ và thu hồi 3,19 tấn thạch cao thương phẩm mỗi giờ cho ngành xây dựng.
  • Khẳng định tính khả thi vượt trội của giải pháp xử lý đa chất ô nhiễm, tạo tiền đề nội địa hóa chuỗi thiết bị xử lý khí thải cho ngành nhiệt điện than Việt Nam.

Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung hoàn tất hồ sơ thiết kế kỹ thuật thi công chi tiết và phê duyệt dự toán đầu tư trong quý II/2026, hướng tới lắp đặt và nghiệm thu toàn diện hệ thống vào cuối năm 2027. Các nhà máy nhiệt điện than đang sử dụng nguồn nhiên liệu giàu lưu huỳnh cần nhanh chóng liên hệ, tham khảo mô hình công nghệ này để chủ động đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 19:2024/BTNMT, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng sản lượng điện và trách nhiệm bảo vệ môi trường sinh thái.