MỞ ĐẦU Hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM) là nơi chuyển tiếp giữa môi trƣờng biển và đất liền, thƣờng phân bố ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng phát triển tốt trên khu vực bãi lầy ven biển, cửa sông hoặc dọc theo các kênh rạch ven biển, chịu tác động trực tiếp của thủy triều. Nhiều nghiên cứu khoa học và thực tế đã cho thấy, hệ sinh thái RNM có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng, đặc biệt là đối với đời sống của cƣ dân ven biển. Không chỉ cung cấp cho ngƣời dân ven biển nguồn lâm sản có giá trị nhƣ: than, củi, tanin.
hay nguồn lợi thủy sản có giá trị cao, RNM còn có vai trò rất quan trọng trong việc chắn gió, chắn sóng, bảo vệ ngƣời dân và các công trình ven biển. RNM thật sự trở thành nguồn tài nguyên quý giá. Khởi đầu cho sự hình thành hệ sinh thái RNM là thảm thực vật ngập mặn (TVNM). Đây là những loài thực vật bậc cao có khả năng chống chịu mặn và sống đƣợc trên các bãi lầy, thƣờng xuyên ngập nƣớc.
Sự phát triển của thảm TVNM trên các bãi bùn lầy, ngập mặn ven biển đã tạo nên hệ sinh thái RNM với năng suất sinh học cao, trữ lƣợng lớn và đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái ven biển. Chính những sản phẩm của thảm TVNM (cành, lá) là nguồn cung cấp mùn bã hữu cơ, hệ thống rễ thở làm tăng khả năng bồi lắng, giữ chất dinh dƣỡng, nơi cƣ trú và bãi đẻ an toàn cho nhiều loài thủy sản quý hiếm. Chính vì vậy, việc nghiên cứu nhằm bảo vệ, khôi phục và phát triển thảm TVNM là việc làm cấp bách, hiệu quả nhất nhằm phát triển và bảo tồn hệ sinh thái có vai trò quan trọng bậc nhất này. Trong những năm vừa qua, sự bùng phát diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã làm cho diện tích RNM ở nƣớc ta suy giảm nghiêm trọng và môi trƣờng bị ô nhiễm.
Hậu quả là các đối tƣợng hải sản nuôi bị nhiễm bệnh, năng suất giảm sút, hàng trăm ha đầm bị bỏ hoang ảnh hƣởng nghiêm trọng đến kinh tế khu vực ven biển. Bên cạch đó, hiện tƣợng biến đổi khí hậu có quy mô trên toàn thế giới đang trở thành vấn đề đƣợc nhiều quốc gia quan tâm, ảnh hƣởng của nó tới đời sống ~1~ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Đặng Hùng Cường đã trở nên nghiêm trọng và gây ra thiệt hại do thiên tai mang lại ngày càng lớn. Theo nghiên cứu mới nhất của cơ quan liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (IPCC), đến cuối thế kỷ này (năm 2100), mực nƣớc biển sẽ dâng lên từ 28 đến 43cm, nhiều vùng lục địa sẽ bị ngập chìm. Hải Phòng là một trong những vùng chịu thiệt hại lớn do những tác động nêu trên.
Do vậy, vai trò của thảm TVNM khu vực ven biển trong việc bảo vệ xóm làng và đê biển trƣớc tác động không nhỏ của thiên tai càng trở nên quan trọng. Việc nghiên cứu về thành phần loài, và phân bố của các loài cây ngập mặn ở trong và ngoài nƣớc đã đƣợc tiến hành từ rất lâu. Tuy nhiên, trƣớc những tác động của thiên nhiên và con ngƣời thì thảm TVNM luôn có sự biến động và mang tính thời sự. Để có đƣợc những giải pháp quản lý cũng nhƣ khai thác nguồn tài nguyên quý giá này một cách hợp lý và bền vững thì cần phải có những nghiên cứu cơ bản về hiện trạng thảm TVNM và thành phần loài cũng nhƣ mối quan hệ quần xã TVNM trong hệ sinh thái khu vực.
Cửa sông Văn Úc, Hải Phòng là một trong những vùng đã từng có TVNM phân bố trên diện tích rộng với mật độ cây lớn và độ che phủ cao. Tuy nhiên, trong nhiều năm vừa qua, do những tác động của con ngƣời (chủ yếu là phá RNM làm đầm nuôi thuỷ sản một cách ồ ạt, không có quy hoạch) đã làm suy giảm nhanh diện tích có TVNM, làm biến đổi cảnh quan và môi trƣờng. Kết quả là có rất nhiều đầm nuôi bị bỏ hoang hoặc nuôi trồng nhƣng cho sản lƣợng rất thấp. Vì vậy cần có mô hình nuôi trồng sinh thái bền vững nhằm khôi phục khu RNM và cải thiện môi trƣờng, có nhƣ vậy việc nuôi trồng mới đem lại hiệu quả dài lâu, phục vụ cuộc sống ngƣời dân ven biển.
Trƣớc những vấn đề mang tính cấp thiết đối với hệ sinh thái RNM cửa sông Văn Úc, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng, biến động và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững thảm thực vật ở hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng cửa sông Văn Úc, Hải Phòng” với các mục đích: ~2~ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Đặng Hùng Cường - Nghiên cứu về hiện trạng thảm TVNM vùng cửa sông Văn Úc trên cơ sở thu thập số liệu từ các công trình nghiên cứu trƣớc đây và số liệu qua các đợt khảo sát thực địa. Trên cơ sở kết quả thu đƣợc, xây dựng danh lục thực vật và xác định cấu trúc RNM cửa sông Văn Úc. - Phân tích xu thế biến đổi của RNM trên cơ sở giải đoán ảnh vệ tinh qua các thời kỳ và xác định nguyên nhân biến đổi của thảm thực vật cửa sông Văn Úc. - Đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên TVNM khu vực cửa sông Văn Úc.
~3~ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Đặng Hùng Cường Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lí luận về nghiên cứu hiện trạng và biến động thảm thực vật hệ sinh thái rừng ngập mặn 1.1 Nghiên cứu về thảm thực vật a. Khái niệm thảm thực vật Có nhiều khái niệm về thảm thực vật đƣợc đƣa ra. (1959), thảm thực vật là lớp thực bì của Trái đất và các bộ phận hợp thành khác của nó. Theo Trần Đình Lý (1998) thì thảm thực vật là lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay trên toàn bộ bề mặt Trái đất.
Thành phần chủ yếu trong thảm thực vật là cá thể các loài cây gỗ, cỏ. Những đối tƣợng nghiên cứu của môn học về thảm thực vật là những quần thể thực vật đƣợc hình thành do một số lƣợng lớn hay nhỏ những cá thể của các loài thực vật tập hợp lại. Nghiên cứu thảm thực vật trên thế giới Ở châu Âu, theo Schmitthusen J. (1959) có hai hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu.
Đầu thế kỷ XX, Morodov G.F ở Liên Xô (cũ) là ngƣời đầu tiên đặt nền móng cho trƣờng phái phân loại rừng vì mục đích kinh doanh. Theo ông kiểu rừng là tập hợp các khu vực rừng có thể khác nhau về những đặc trƣng thứ yếu, nhƣng tƣơng tự nhau về các điều kiện hình thành, đặc biệt là thổ nhƣỡng.N dựa trên quan điểm của Morodov coi rừng là một sinh địa quần lạc và dùng đơn vị cơ bản phân loại thảm thực vật là quần hợp. [14] Theo Thái Văn Trừng (1970), ở vùng nhiệt đới, hệ thống phân loại đầu tiên về thảm thực vật rừng nhiệt đới là của Schimper A. Hệ thống của Schimper chia thảm thực vật thành: 1.
quần hệ thổ nhƣỡng, 2. quần hệ vùng núi và ~4~ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Đặng Hùng Cường 3. quần hệ khí hậu. Ngoài ra còn có, Champion H.
(1936) đã phân biệt 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt độ ở vùng nhiệt đới gió mùa châu Á: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao. (1944) đƣa ra một hệ thống phân loại 3 cấp cho những quần thể thực vật vùng Nam Mỹ. Hệ thống này đƣợc xem là hoàn chỉnh nhất ở nhiệt đới châu Mỹ [30]. đề nghị áp dụng hệ thống này cho các vùng nhiệt đới khác.
Forberg (1958) đƣa ra hệ thống phân loại chung cho thảm thực vật rừng nhiệt đới, dựa trên cơ sở sinh thái và cấu trúc của quần thể là lớp quần hệ, quần hệ và quần hệ phụ.[30] UNESCO (1973) [51] đã công bố một khung phân loại thảm thực vật trên thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo, cấu trúc để có thể so sánh đƣợc các kết quả nghiên cứu ở các vùng khác nhau và có thể thể hiện trên bản đồ tỉ lệ 1:1. Theo Trần Đình Lý, đây là bảng phân loại còn mang nhiều tính chất nhân tạo nhƣng lại cần thiết theo thực tế hiện nay. Nghiên cứu thảm thực vật ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về thảm thực vật trƣớc năm 1960 chủ yếu do các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài thực hiện nhƣ: Năm 1960, Loschau đã đƣa ra bảng phân loại rừng theo trạng thái. Hệ thống này đã đƣợc áp dụng khá rộng rãi ở nƣớc ta trong điều tra tái sinh rừng và điều tra tài nguyên rừng theo trạng thái phục vụ công tác qui hoạch, thiết kế kinh doanh rừng.
Thảm thực vật trong hệ thống phân loại của Loschau gồm 4 loại hình: 1. đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi; 2. rừng non mới mọc; 3. các loại rừng bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ, củi; 4.
rừng già nguyên sinh chƣa bị khai phá.[8] Trần Ngũ Phƣơng (1970) đã xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu các qui luật diễn thế thứ sinh, diễn biến độ phì, những biến đổi tính chất vật lý, hóa học của đất qua các giai đoạn phát triển rừng. Ông đã ~5~ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Đặng Hùng Cường chia rừng Việt Nam thành ba đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mƣa mùa, đai rừng á nhiệt đới mƣa mùa và đai rừng á nhiệt đới mƣa mùa núi cao, trong mỗi đai lại đƣợc chia thành các kiểu rừng khác nhau. Điểm hạn chế của bảng phân loại là chƣa làm nổi bật mối quan hệ giữa thảm thực vật và các điều kiện môi trƣờng.[12] Thái Văn Trừng (1970) trên quan điểm sinh thái phát sinh đã xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam. Ông đã phân chia các kiểu thảm thực vật Việt Nam vào một khung gồm cả những nhân tố sinh thái phát sinh.
Đồng thời trong mỗi nhóm nhân tố lại sắp xếp theo trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến xấu nhất. Đây là công trình tổng quát có giá trị về lý luận và thực tiễn, đáp ứng qui hoạch sinh thái, đƣợc nhiều nhà khoa học đánh giá cao.[30] Phan Kế Lộc (1985) đã áp dụng khung phân loại thực vật thế giới UNESCO (1973) để xây dựng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam và thể hiện trên bản đồ tỉ lệ 1:2.