Chương 1. Những vấn đề lý luận pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Chương 2. Thực trạng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn thực hiện tại huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp qua thực tiễn thi hành trên địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
12 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Lý luận về bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất nông nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm của đất nông nghiệp và bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất nông nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm của đất nông nghiệp a.
Khái niệm Hiện nay, quan điểm pháp luật của các quốc gia trên thế giới về đất nông nghiệp cũng có sự khác nhau. Cụ thể, theo Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) định nghĩa thì đất nông nghiệp được hiểu bao gồm các thành phần đó là: đất canh tác như đất trồng cây hàng năm ví dụ như ngũ cốc, khoai tây, bông, rau, dưa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng được trong nông nghiệp nhưng tạm thời bỏ hoang (đất hoang hóa, đất thoái hóa); đất vườn cây ăn trái và những vườn nho hay cánh đông nho (phổ biến ở Châu Âu); đất trồng cây lâu năm; cánh đồng, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc. Ở các nước đang khô hạn và bán khô hạn, đất nông nghiệp thường được giới hạn trong phạm vi đất tưới tiêu. Vì vậy tùy thuộc vào việc sử dụng hệ thống tưới tiêu nhân tạo, đất nông nghiệp được chia thành đất có tưới tiêu và không có tưới tiêu.
Đất nông nghiệp là một phần của lãnh thổ của bất kỳ quốc gia, trong đó bao gồm cả những vùng đất các khu vực không thích hợp cho nông nghiệp ví dụ như rừng, núi và các vùng nước nội địa. Đất nông nghiệp chiếm 38% diện tích đất của thế giới, trong đó diện tích đất trồng chiếm khoảng 11% diện tích đất thế giới. Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được hiểu là đất trồng các loại cây lương thực như lúa, ngô, khoai sắn và một số loại cây ngắn ngày phục vụ cho cuộc sống thường nhật của người sử dụng đất. Thực tế thì việc sử dụng đất nông nghiệp rất rộng rãi.
Đất nông nghiệp được sử dụng để trồng các loại cây lương thực, cây lâu năm có giá trị kinh tế cao, nuôi trồng thủy sản, trồng các loại cây và nuôi các loại gia cầm để nghiên cứu, thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, đất sử dụng để bảo tồn thiên 13 nhiên, trồng rừng phục vụ nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và chế biến, đất phục vụ cho các mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái. Với cách hiểu này, khái niệm đất nông nghiệp sẽ có phạm vi hẹp, được xác định chủ yếu là đất nhằm mục đích trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu về trồng trọt và chăn nuôi, kể cả nuôi trồng thủy sản. Tư duy này hướng việc phân loại đất theo tiêu chí không gian lẫn mục đích sử dụng chủ yếu nhưng lại chưa gắn với việc quản lý nhà nước về đất đai ở tầm vĩ mô. Nếu định nghĩa đất nông nghiệp theo cách hiểu này sẽ dẫn đến tình trạng khi xen canh các loại đất khác nhau thì công tác quản lý sẽ rất khó khăn, phức tạp do mỗi loại đất khác nhau lại có chế độ pháp lý khác nhau, đặc biệt trong chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất này sang loại đất khác.
Để khắc phục hạn chế trên, pháp luật đất đai hiện hành đã phân nhóm đất nông nghiệp nhằm giúp việc quản lý đất đai thuận tiện hơn theo hướng mở rộng phạm vi khái niệm các loại đất nông nghiệp và dùng cụm từ “nhóm đất nông nghiệp” thay cho cụm từ “đất nông nghiệp”. Việc sử dụng cụm từ “nhóm đất” nhằm mục đích tổng hợp nhiều loại đất có cùng tính chất và chế độ sử dụng tương đồng trong phạm vi cơ cấu một nhóm đất lớn có các đặc trưng giống nhau nhất định về chế độ sử dụng. Điều này giúp tập trung quản lý cho từng nhóm chủ thể được giao đất, cho thuê đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 10, Luật Đất đai 2013 nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất là: đất trồng cây hàng năm; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối và đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh.
Từ đó có hiểu đất nông nghiệp: là tổng thể các loại đất với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho hoạt động nông, lâm, thủy sản, diêm nghiệp, bảo vệ 14 môi trường và các hoạt động nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Đặc điểm Thứ nhất, đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của quá trình lao động. Đất đai vốn là sản phẩm của tự nhiên. Tuy nhiên, để đất trở thành đất nông nghiệp đòi hỏi quá trình con người tiến hành khai phá đưa đất hoang hóa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm, của cải cho con người.
Do đó, đất nông nghiệp còn là kết tinh của quá trình lao động/sản phẩm của lao động. Thông qua lao động con người có thể làm thay đổi giá trị, độ phì nhiêu của đất đai. Xuất phát từ đặc điểm này nên giá trị của đất nông nghiệp được căn cứ trên độ phì nhiêu của đất cộng với giá trị sức lao động và công sức cải tạo của người sử dụng đất. Thứ hai, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất quan trọng không thể thay thế trong hoạt động nông – lâm – ngư và diêm nghiệp.
Đặc điểm này của đất nông nghiệp xuất phát từ bản chất của đất đai là tư liệu sản xuất không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất. Nếu sử dụng hợp lý thì đất nông nghiệp sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn. Việc sử dụng đất đúng đắn hay không là tùy thuộc vào chính sách của Nhà nước và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học, công nghệ ở từng giai đoạn. Thứ ba, đất nông nghiệp bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất, giá trị khai thác của đất là không có giới hạn.
Diện tích đất đai đưa vào khai thác nông nghiệp bị giới hạn bởi không gian nhất định bao gồm giới hạn tuyệt đối với giới hạn tương đối. Diện tích đất đai của toàn bộ hành tinh, của từng quốc gia, từng địa phương là con số hữu hạn đó là giới hạn tuyệt đối của đất đai. Không phải tất cả diện tích đất tự nhiên đều đưa vào canh tác được, tùy thuộc điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kinh tế của từng nước mà diện tích đất nông nghiệp đưa vào canh tác chỉ chiếm tỉ lệ phần trăm thích hợp. Đây là giới hạn tương đối.
Giới hạn này nhỏ hơn nhiều so với tổng quỹ đất tự 15 nhiên. Xuất phát từ đặc điểm này nên trong hoạt động khai thác, sử dụng cần phải biết quý trọng và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hạn chế việc chuyển dịch ruộng đất sang sử dụng vào mục đích khác. Tuy nhiên, mặc dù bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất của ruộng đất là không giới hạn. Nghĩa là mỗi đơn vị diện tích đất đai, nhờ tăng cường đầu tư vốn, sức lao động, đưa khoa học và công nghệ mới vào sản xuất mà sản phẩm đem lại trên một đơn vị diện tích ngày càng nhiều hơn.
Đây là con đường phát triển chủ yếu của nông nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng lên về nông – sản phẩm cung cấp cho con người. Thứ tư, đất nông nghiệp có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều. Các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi thiếu và cần thiết nhưng đất đai thì không. Với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng đất đai lại mang tính cố định, gắn với vị trí cụ thể với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau.
Điều này buộc người lao động và các tư liệu sản xuất khác phải tìm đến ruộng đất để canh tác. Để làm được điều này thì Nhà nước một mặt phải quy hoạch các khu vực canh tác, bố trí các trung tâm dịch vụ và phân bố điểm dân cư hợp lý, mặt khác phải cải thiện các điều kiện canh tác, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật và hệ thống kết cấu hạ tầng nhằm tạo điều kiện để việc sử dụng đất có hiệu quả. Ngoài ra, chất lượng đất đai giữa các khu vực cũng không đồng đều. Đây là kết quả của quá trình hình thành đất cũng như quá trình canh tác của con người.
Vì thế, trong quá trình sử dụng đất cần phải cải tạo và thường xuyên bồi dưỡng đất, không ngừng nâng dần độ đồng đều của ruộng đất ở từng cánh đồng, từng khu vực để đạt năng suất cây trồng cao. Thứ năm, đất nông nghiệp có tính linh hoạt trong mục đích sử dụng. Khác với các tư liệu sản xuất khác chỉ có thể sử dụng vào từng mục đích cụ thể và rất khó chuyển đổi sang sử dụng vào mục đích khác, đất nông nghiệp có thể chuyển đổi sang mục đích khác. Ví dụ như: chuyển từ đất trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản hoặc từ đất trồng cây hàng năm sang xây dựng trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm… Việc khai thác đất đai phụ thuộc vào khả năng, trình độ khoa học kỹ 16 thuật cũng như ảnh hưởng, tác động từ các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô và định hướng sản xuất của Nhà nước.