CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QSDĐ 1. QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QSDĐ 1. Khái niệm, đặc điểm chung và các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ Kể từ khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực pháp luật thì việc chuyển nhượng QSDĐ được Nhà nước công nhận, không bị cấm.
Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995 và BLDS năm 2005 đều dành một phần-phần thứ năm quy định về chuyển QSDĐ. Theo Chương XXVIII, BLDS năm 2005 quy định về Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, trong đó tại Điều 697 có nêu khái niệm “hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng chuyển giao đất và quyền sử dụng cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định”1. Khác với hai bộ luật này, BLDS năm 2015 thì không quy định cụ thể ở chương riêng về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ mà chỉ quy định chung trong Chương XVI “Một số hợp đồng thông dụng” có Mục 7 với nội dung rất khái quát về các loại “hợp đồng về QSDĐ”, cụ thể tại Điều 500 quy định chung về “hợp đồng về QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn QSDĐ hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất”2. Qua sự sửa đổi bổ sung này ta thấy cũng hợp lý, tránh trùng lặp tại những phần khác nhau trong BLDS và Luật Đất đai cũng như luật khác có liên quan.
Mặc dù đất đai là một loại tài sản đặc biệt, thuộc quyền sở hữu của toàn dân nên người 1 Điều 697 Bộ luật dân sự năm 2005. 2 Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015. 7 sử dụng đất không phải là người chủ sở hữu nhưng luật trao cho rất nhiều quyền được quy định tại Điều 166, Điều 167 Luật Đất đai. Người sử dụng đất được nhà nước trao QSDĐ thông qua các hình thức như giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ.
Các QSDĐ đó tương tự như quyền của chủ sở hữu các loại tài sản khác như quyền chuyền đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn QSDĐ, được Nhà nước bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai3. Theo Điều 105 BLDS năm 2015 có quy định về “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”4.Vì vậy QSDĐ cũng là tài sản của cá nhân, tổ chức.
Do đó khi chủ sử dụng đất thực hiện việc chuyển QSDĐ thì đều phải thực hiện thông qua các giao dịch, hợp đồng như các loại tài sản khác. Vì vậy, để tránh trùng lặp nên BLDS năm 2015 đã chọn phương án dẫn chiếu áp dụng những quy định chung về hợp đồng và những quy định tương đồng với việc chuyển nhượng QSDĐ và quy định những điểm riêng biệt cần áp dụng khi tham gia giao dịch dân sự đó. Việc chuyển nhượng QSDĐ với nhau tạo điều kiện cho người có đất nhưng không có nhu cầu sử dụng sẽ chuyển cho người khác có nhu cầu sử dụng và khai thác một cách có hiệu quả tạo ra của cải vật chất cho gia đình và cho xã hội. Đối với người có đất nhưng không có nhu cầu sử dụng thì sau khi chuyển nhượng họ được khoản tiền tương ứng với giá trị QSDĐ để đầu tư, kinh doanh hoặc thực hiện công việc khác nhằm tạo ra của cải vật chất cho bản thân, gia đình và xã hội.
Đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là QSDĐ của bên chuyển nhượng nhưng thửa đất vẫn thuộc quyền sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện thống nhất quản lý. Do đó người sử dụng đất không có 3 Tưởng Duy Lượng, Lê Thị Hòa (2018), Bàn về một số loại hợp đồng thông dụng, Tạp chí TAND nhân dân tối cao, (Số 6), tr 10. 4 Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015. 8 toàn quyền quyết định, định đoạt tuyệt đối như đối với các loại tài sản khác thuộc quyền sở hữu của mình.
Ngoài ra, các bên còn phải tuân thủ các quy định về điều kiện, nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định5. Ngoài ra, các bên cần xác định loại đất, diện tích đất, vị trí, số hiệu đất được chuyển giao; ranh giới và tình trạng đất được chuyển giao, thời hạn sử dụng đất, mục đích và quy hoạch sử dụng đất, bởi các yếu tố này vừa là cơ sở để xác định giá trị QSDĐ, vừa là cơ sở để xác định diện tích đó có vượt quá hạn mức đất được phép chuyển nhượng hay không. Do xuất phát từ đất đai có vị trí, vai trò to lớn trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất từ nền sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến sự phát triển và ổn định kinh tế. Khi các bên tự nguyện xác lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, các bên căn cứ vào các giấy tờ chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà theo quy định của pháp luật, người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng QSDĐ.
Quyền cụ thể của mỗi bên được luật quy định cụ thể và buộc các bên thực hiện theo đúng sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đã ký kết với nhau. Tuy nhiên, để đảm bảo việc sử dụng đất hiệu quả, tránh hiện tượng đầu cơ đất đai không khai thác hết tiềm năng của đất đai, Nhà nước quy định điều kiện cho cả bên nhận chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng QSDĐ. Ví dụ Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho QSDĐ trồng lúa. Hộ gia đình, cá nhân cũng không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho QSDĐ ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng.
Khác với các hợp đồng dân sự khác về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ bắt buộc phải được lập thành văn bản và được công chứng, chứng thực và phải tiến hành đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Đây không những là căn cứ pháp lý xác lập quyền 5 Nguyễn Minh Hằng, Nguyễn Văn Cường (2011), Giao dịch về QSDĐ vô hiệu- Pháp luật và thực tiễn xét xử, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội. 9 sở hữu QSDĐ mà còn là căn cứ để giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ khi có vi phạm xảy ra. Khi các chủ thể ký kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ thì các chủ thể phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế chuyển QSDĐ, nộp lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính theo quy định pháp luật.
Tóm lại, chuyển nhượng QSDĐ về bản chất là mua bán, đó là việc một bên (bên bán) chuyển giao tài sản và quyền sở hữu đối với tài sản từ mình sang bên kia (bên mua) để nhận từ bên kia một khoản tiền nhất định. Đối tượng chuyển nhượng trong trường hợp này chỉ là QSDĐ nên hợp đồng này có tên gọi là: Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Chuyển nhượng QSDĐ trong giao dịch dân sự phải tuân theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng QSDĐ chuyển giao đất và QSDĐ cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai.
Nếu chuyển nhượng QSDĐ trong kinh doanh bất động sản thì còn phải tuân theo quy định của pháp luật về Luật KDBĐS. Bên cạnh đó thì quyền tài sản này cũng có tính đặc thù riêng do luật định nên khi thực hiện các giao dịch người sử dụng đất vừa phải tuân thủ theo quy định của BLDS năm 2015 về hợp đồng dân sự, vừa phải tuân thủ theo quy định của Luật Đất đai và các luật khác có liên quan như Luật KDBĐS. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ 1. Về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ Theo khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự năm 2005 thì “Hợp đồng chuyển nhượng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật”6.
Tuy nhiên khi các bên ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ mà viết giấy tay, viết không theo đúng mẫu quy định, không có công chứng chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì căn cứ Điều 134 BLDS năm 2005, theo yêu 6 Điều 689 Bộ luật dân sự năm 2005. 10 cầu của một hoặc các bên, Tòa án ra Quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng trong một thời hạn khoảng 01 tháng, nếu quá thời hạn đó mà các bên không thực hiện thì giao dịch vô hiệu. Tuy nhiên điều luật này khi được vận dụng vào thực tế thấy rằng nó không có tính khả thi, không mang lại hiệu quả gì, không đương sự nào tiếp tục tự nguyện thực hiện hợp đồng theo yêu cầu Tòa án7. Tuy nhiên đến BLDS năm 2015 có sửa đổi, bổ sung tại Điều 502 quy định “Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”8.
Thứ nhất: Hình thức của hợp đồng phải lập thành văn bản và được công chứng chứng thực theo quy định pháp luật vừa phải tuân thủ theo các quy định tại khoản 2 Điều 117, Điều 119 BLDS năm 2015, Nghị định 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KDBĐS. Như vậy BLDS năm 2015 đã khắc phục được Điều 134 BLDS năm 2005 do không có tính khả thi. Cụ thể theo quy định tại Điều 129 BLDS năm 2015 thì tùy trường hợp “khi vi phạm quy định về hình thức cụ thể về hợp đồng không làm thành văn bản hoặc văn bản không đúng mẫu quy định hoặc trường hợp hợp đồng đã được lập bằng văn bản đúng mẫu quy định nhưng chưa được công chứng chứng thực nhưng các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.