chương 1: Vấn đề đặt ra cần nghiên cứu giải quyết là: Vì sao tồn tại hợp đồng giả tạo, nguyên nhân chính dẫn đến hợp đồng giả tạo là gì. Cách thức áp dụng pháp luật để xử lý hợp đồng giả tạo của các cơ quan có thẩm quyền còn vướng mắc khó khăn 123doc 14 như thế nào, từ đó có cách nhìn tổng quan hơn để giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật. 123doc 15 Chương 2: Cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp hợp đồng giả tạo 2.1 Khái niệm hợp đồng giả tạo. Hợp đồng: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, chỉ khi có sự tự nguyện thỏa thuận và thống nhất ý chí thì lúc này hợp đồng mới được hình thành.
Các bên được thiết lập, tự do thoả thuận hợp đồng nhưng sự tự do ấy phải được đặt trong giới hạn lợi ích của người khác và trong khuôn khổ pháp luật quy định, phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội. Theo quy định của bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”10. BLDS năm 2015 đã sửa đổi không còn quy định khái niệm hợp đồng dân sự mà chỉ quy định về hợp đồng như “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chất dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, so với BLDS hiện hành thì BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “Dân sự” sau hai từ “Hợp đồng”.
Việc sửa đổi này xuất phát từ thực tiễn áp dụng vì BLDS năm 2005 quy định là hợp đồng dân sự nên khi có những tranh chấp phát sinh thì ngoài quy định tại BLDS này không còn bộ luật nào quy định cụ thể chi tiết về hợp đồng, kể cả luật chuyên ngành là Luật Thương mại cũng không quy định cụ thể chi tiết, nên nếu có tranh chấp hợp đồng thương mại, hợp đồng đầu tư… thì áp dụng thực tiễn có khó khăn, đã không phải là hợp đồng dân sự nên chúng sẽ không chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự hiện hành. Cho nên, quy định mới về khái niệm hợp đồng theo BLDS năm 2015 là hợp lý, phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật.11 Giả tạo: Là cách thức thực hiện của một hay nhiều người tiến hành làm việc nào đó không được thật. Hợp đồng là thỏa thuận phải gặp và diễn ra hằng ngày trong cuộc sống đối với tất cả các chủ thể, do vậy việc nắm rõ bản chất và cách thức vận dụng là hết sức cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của tất cả các chủ thể khi tham gia hợp đồng hằng ngày. Một hợp đồng khi hai bên tiến hành giao kết thì nhất định phải có tên gọi.
Khi hợp Điều 388 BLDS năm 2005. 10 Hồng phong- Điểm mới về hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2015, http://www.vn/diem- 11 moi-ve-hop-dong-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su-nam-2015.html 123doc 16 đồng được các bên gọi bằng một tên nhất định và tên gọi này được thể hiện trong luật thực định, thì toàn bộ chế độ pháp lý của hợp đồng đó được áp dụng để chi phối các mối quan hệ kết ước liên quan mà không cần sự bày tỏ ý chí rõ ràng của các bên. Do đó, tên gọi của hợp đồng là vấn đề rất quan trọng, tên gọi của hợp đồng thể hiện qua mục đích của hai bên giao kết, việc xác định tên gọi của hợp đồng nhằm xác định hậu quả pháp lý nếu như các bên có tranh chấp, làm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết những quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của các bên. Nếu phát sinh tranh chấp khởi kiện tại Toà án thì Toà án sẽ dễ dàng xác định quan hệ pháp lý, quan hệ tranh chấp và thuận lợi hơn khi giải quyết và vận dụng pháp luật để giải quyết một cách chính xác.
Tuy nhiên đối với hợp đồng hai bên giao kết có tên gọi nhất định mà hợp đồng đó không phải là hợp đồng hai bên đang thống nhất thực hiện, hai bên đang thực hiện một hợp đồng khác thì gọi chung đó là hợp đồng giả tạo. Từ quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng tác giả đưa ra khái niệm về hợp đồng giả tạo như sau: Hợp đồng giả tạo là do các bên cùng thực hiện một hợp đồng giả để nhằm che giấu một hợp đồng, một giao dịch thật khác được thực hiện cùng thời điểm hoặc trước đó. Khái niệm tranh chấp hợp đồng giả tạo. Khi các bên giao kết hợp đồng giả tạo thì lúc nào cũng mong muốn đạt được mục đích của mình.
Một bên mong muốn có một nguồn vốn hoặc lợi ích vật chất, một bên mong muốn thu được lợi nhuận. Do đó, việc xảy ra tranh chấp là cả hai bên đều không hướng đến. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên tranh chấp hợp đồng giả tạo vẫn phát sinh, mục đích không đạt được mà nhiều khi còn thiệt hại về tài sản. Theo từ điển tiếng Việt “Tranh chấp là sự tranh đấu, giằng co khi bất đồng ý kiến giữa hai bên”12.
Theo tiến sĩ Đào Văn Hội “Tranh chấp, hiểu theo nghĩa khái quát nhất đó là những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật”13. 12 Viện ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiêng Việt năm 2000, NXB.Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 13 Đào Văn Hội (2004), Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.
123doc 17 Theo BLDS “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”14. Hiện nay do chưa có khái niệm về tranh chấp hợp đồng, cũng như tranh chấp về hợp đồng giả tạo, tuy nhiên có thể qua khái niệm tranh chấp và khái niệm về hợp đồng, hợp đồng giả tạo mà tác giả đã tổng kết được để có cách khái quát chung nhất về tranh chấp hợp đồng. Tranh chấp về hợp đồng là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng hoặc tranh chấp của bên thứ ba, liên quan đến giá trị pháp lý của hợp đồng, việc thực hiện hoặc không thực các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng. Tranh chấp hợp đồng có các yếu tố sau: * Có một quan hệ hợp đồng tồn tại giữa các bên tranh chấp.
* Có sự vi phạm hoặc giả thiết là vi phạm nghĩa vụ của một bên làm ảnh hưởng tới lợi ích của bên kia hoặc việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng làm ảnh hưởng đến bên thứ ba. * Có sự bất đồng ý kiến của các bên về sự vi phạm hoặc xử lý hậu quả phát sinh từ sự vi phạm hợp đồng. Từ khái niệm tranh chấp hợp đồng có thể thấy tranh chấp hợp đồng giả tạo là những xung đột, bất đồng mâu thuẫn giữa các bên hoặc với người thứ ba về việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng mà các bên đồng thời giao kết với nhau.Đặc điểm của hợp đồng giả tạo Thứ nhất: Hợp đồng giả tạo là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của cả hai bên, mặc dù có thể chỉ có một bên tiến hành thực hiện mọi giao dịch, mục đích của việc thực hiện hợp này nhằm để đảm bảo cho hợp đồng thật được thực hiện một cách thuận lợi. Tuy nhiên có sự thống nhất ý chí phù hợp với ý chí của Nhà nước, có ý chí không phù hợp với ý chí của Nhà nước.
Sự thống nhất về ý chí thể hiện trong việc cả hai bên đều thống nhất về việc thực hiện đồng thời cả hai loại hợp đồng, hợp đồng giả và hợp đồng thật. Do có sự thống nhất ý chí nên mới phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Ví dụ: Ý chí của Nhà nước về việc không ghi nhận người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam. 14 Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 385 bộ luật dân sự năm 2015.
123doc 18 Thứ hai: Hợp đồng giả tạo là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý như xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể. Khi các bên có nhu cầu tham gia giao lưu dân sự nhằm để đáp ứng mục đích mà các chủ thể hướng đến thì hợp đồng được tiến hành thực hiện. Hợp đồng giả tạo được thực hiện thì đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được thỏa thuận là thật, cũng có thể quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh trong hợp đồng được thỏa thuận là giả. Ví dụ: Hợp đồng giả là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi giao kết hợp đồng này thì quyền và nghĩa vụ của hợp đồng thật là hợp đồng vay tài sản phát sinh, bên vay nhận được vốn vay và bên cho vay nhận được lãi suất như hai bên thỏa thuận theo hợp đồng vay.
Thứ ba: Hình thức của hợp đồng không có giá trị bắt buộc đối với các bên, chỉ mang tính hình thức. Hợp đồng bị che giấu mới là hợp đồng thật là hợp đồng mà các bên mong muốn thực hiện. Hai bên cùng thỏa thuận hợp đồng thật có thể bằng văn bản hoặc cùng có thể thỏa thuận bằng lời nói mà không lập thành văn bản, không thông qua cơ quan chức năng quản lý cùng như không công chứng. Để đảm bảo cho hợp đồng thật được thực hiện thì hai bên cùng thỏa thuận lập hợp đồng giả tạo, hợp đồng này được thực hiện bằng văn bản có công chứng, về hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.
Thứ tư: Nội dung của hợp đồng giả tạo thể hiện chủ thể, đối tượng của hợp đồng, giá trị, phương thức thanh toán…tuân theo quy định của pháp luật, một số hợp đồng tiến hành thực hiện, một số hợp đồng không tiến hành thực hiện nội dung của hợp đồng. Một số hợp đồng cả hai bên chủ thể đều thống nhất ý chí, cũng có một số loại hợp đồng không phải là ý chí của các bên hướng đến, vẫn thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên đã quy định cho nhau.