CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc Con người muốn tồn tại và phát triển thì đầu tiên cần phải lao động. Trong quá trình lao động con người luôn luôn tác động vào tự nhiên và tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra những sản phẩm, những giá trị cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình.
Sản phẩm tạo ra càng nhiều thì đời sống con người càng đầy đủ, điều đó có nghĩa là việc thỏa mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào khả năng lao động của chính họ. Tuy nhiên trong quá trình lao động con người không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi mà nhiều khi gặp khó khăn, bất lợi làm cho bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc rơi vào các rủi ro khác như bị ốm đau, tai nạn, tuổi già…Khi rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng nói trên thì các nhu cầu cần thiết của cuộc sống vẫn tồn tại không hề bị mất đi, mà trái lại có nhu cầu còn tăng lên hoặc xuất hiện các nhu cầu mới như ốm đau cần được chữa bệnh, khi chết đi người phụ thuộc cần được nuôi dưỡng…Để vượt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh, từ lâu người ta thường áp dụng các biện pháp phòng ngừa và các biện pháp khắc phục những hậu quả khác nhau. Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất là lập các quỹ dự trữ và tiến hành bảo hiểm tập trung trên phạm vi toàn xã hội. Như vậy, bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển là một quá trình thích ứng và xử lý những vấn đề liên quan đến nhu cầu của con người.
Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỉ XIX là công trình của Chính phủ Đức dưới thời thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ chế ba bên 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Nhà nước – giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động trong một số trường hợp họ gặp rủi ro. Chế độ bảo hiểm xã hội này gồm: Chế độ bảo hiểm ốm đau (1883); bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảo hiểm tuổi già, tàn tật (1889). Sau đó trước tác dụng tích cực của bảo hiểm xã hội trong quan hệ lao động nhiều nước bắt đầu áp dụng hệ thống bảo hiểm xã hội. Trong những năm 30 của thế kỷ XX, một số nước còn mở rộng thêm những chế độ khác ngoài bảo hiểm xã hội và xuất hiện khái niệm mới: Social Security (An sinh, an tòan xã hội).
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có Công ước số 102 năm 1952 về an sinh xã hội. Hiện nay trên thế giới nói chung người ta coi bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành của an sinh xã hội. Ở nước ta, xét về mặt lịch sử bảo hiểm xã hội xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX, một số chế độ được áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế độ tai nạn, chế độ hưu trí và cũng chỉ áp dụng cho một số đối tượng làm việc, phục vụ trong bộ máy hành chính, quân đội Pháp. Sau đó, khi thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và suốt thời gian dài vừa dựng nước, vừa giữ nước, nước ta đã từng bước phát triển và hoàn thiện các chế độ bảo hiểm xã hội.
Ngày 29/06/2006 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI nước ta đã thông qua Luật bảo hiểm xã hội và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, điều này đã đánh dấu bước phát triển mới của chính sách an sinh xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, khi bàn đến khái niệm bảo hiểm xã hội thì tùy theo góc độ nhìn nhận mà khái niệm bảo hiểm xã hội được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, bảo hiểm xã hội là sự: “ Bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động…[20, tr. Giáo trình Luật lao động của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội định nghĩa: “Dưới góc độ pháp lý, bảo hiểm xã hội là tổng hợp các quy định của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp nhằm ổn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định đời sống cho người lao động khi họ gặp những rủi ro, hiểm nghèo trong quá trình lao động hoặc khi già yếu không còn khả năng lao động”[6, tr.
Có tác giả lại cho rằng : “ Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội[9, tr. Còn theo Giáo trình bảo hiểm của Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội thì bảo hiểm xã hội “là quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích dần do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động dưới sự điều tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo nguồn thu nhập thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động và gia đình họ khi gặp những biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập theo lao động[12]. Sở dĩ khái niệm bảo hiểm xã hội được tiếp cận với những nội dung đa dạng như trên bởi trước khi có Luật bảo hiểm xã hội thì không có văn bản pháp lý nào quy định một cách cụ thể và chính thức về vấn đề này, hơn nữa sự đa dạng đó còn được giải thích bởi góc độ tiếp cận và nhu cầu nghiên cứu khác nhau. Hiện nay, theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014 thì bảo hiểm xã hội được định nghĩa như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.” Có thể thấy bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển là một quá trình thích ứng và xử lý những vấn đề liên quan đến nhu cầu của con người.
Việc đảm bảo vật chất cho người lao động khi họ gặp những biến cố, rủi ro, trong thời gian dài lao động sẽ khó được thực hiện thường xuyên và đầy đủ nếu chỉ dựa 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào sự tương trợ mang tính hảo tâm. Ngược lại, nó chỉ có thể được bảo đảm chắc chắn, ổn định và bền vững khi có sự tổ chức và bảo đảm của Nhà nước với những quy định về sự đóng góp mang tính bắt buộc để hình thành nên một loại quỹ tiền tệ tập trung ở phạm vi lớn. Chính điều này làm cơ sở cho việc hình thành nên hình thức bảo hiểm xã hội bắt buộc. Qua nghiên cứu các quan điểm về bảo hiểm xã hội ở trên ta có thể hiểu rằng “bảo hiểm xã hội bắt buộc là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động (và trong một số trường hợp gồm cả thành viên gia đình) khi họ gặp rủi ro hoặc biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động do một số nguyên nhân nhất định gây ra (như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu hoặc chết) trên cơ sở nghĩa vụ bắt buộc tham gia của người sử dụng lao động và người lao động”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014 “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.” Như vậy bảo hiểm xã hội bắt buộc là một hình thức đảm bảo về thu nhập cho người lao động và có thể là thành viên trong gia đình của họ. Việc đảm bảo này được thực hiện trên cơ sở nghĩa vụ phải tham gia đóng góp của các đối tượng nhất định nhằm tạo lập ra nguồn chi trả. Hay có thể nói cách khác, các đối tượng không có quyền lựa chọn tham gia hay không tham gia mà họ bắt buộc phải tham gia loại hình bảo hiểm xã hội này khi thuộc các trường hợp mà pháp luật quy định. Tính bắt buộc là một trong những điểm đặc thù của loại hình bảo hiểm xã hội này.
Đặc điểm của bảo hiểm xã hội bắt buộc Thứ nhất: BHXH bắt buộc có những đặc điểm của BHXH nói chung: Bảo hiểm cho NLĐ trong và sau quá trình lao động. Khi tham gia vào BHXH thì NLĐ sẽ được bảo hiểm cho đến lúc chết. Khi còn làm việc, NLĐ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội trợ cấp ốm đau, lao động nữ được trợ cấp thai sản khi mang thai, sinh con; người bị tai nạn được trợ cấp tai nạn lao động; khi không còn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí (ở Việt Nam còn gọi là lương hưu), khi chết thì được hưởng tiền chôn cất và gia đình được hưởng trợ cấp tuất… Đây là đặc điểm riêng biệt của BHXH thể hiện tính xã hội rất cao mà không một loại hình bảo hiểm nào có được. Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội được bảo hiểm trong BHXH liên quan đến thu nhập của NLĐ gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết.
Do những sự kiện và rủi ro này mà NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, dẫn đến việc họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp. Trong những trường hợp đó, NLĐ cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù đắp này được thông qua các trợ cấp BHXH. Tuy nhiên, trong BHXH, không phải NLĐ cứ bị mất thu nhập bao nhiêu là được bù bấy nhiêu. Điều này liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NLĐ được pháp luật BHXH quy định.