Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa học cây trồng của tác giả Mông Thị Nhật Ánh (Trường Đại học Lâm nghiệp - Phân hiệu Đồng Nai, thực hiện năm 2023 dưới sự hướng dẫn của TS. Đinh Quang Tuyến) tập trung giải quyết yêu cầu hoàn thiện kỹ thuật bón phân hữu cơ trong canh tác măng tây xanh tại vùng khô hạn tỉnh Ninh Thuận. Cây măng tây (Asparagus officinalis L.) thuộc họ Măng tây (Asparagaceae), là loại rau cao cấp chứa hàm lượng dinh dưỡng cao với 83% nước và 17% chất khô (trong đó gồm 2,2% protein, 1,2% glucid, 0,6% celluloze và 21% khoáng chất như Mg, K, Ca, Zn). Nhờ chứa các hoạt chất sinh học như saponin, fructan, rutin và acid folic, măng tây mang lại nhiều giá trị dược liệu và dinh dưỡng.

Cây măng tây được đưa vào thử nghiệm tại Ninh Thuận từ năm 2009 và tỏ ra thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương. Tính đến tháng 6 năm 2020, tổng diện tích trồng măng tây tại tỉnh đạt khoảng 250 ha, phân bố tập trung tại huyện Ninh Phước (khoảng 180 ha), Ninh Hải (20 ha), Ninh Sơn (15 ha), thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (5 ha), Thuận Bắc (10 ha) và Thuận Nam (10 ha). Tuy nhiên, tập quán canh tác măng tây tại địa phương chủ yếu lạm dụng phân bón hóa học, dẫn đến hiện tượng chai cứng đất, suy giảm độ phì nhiêu và rút ngắn chu kỳ khai thác kinh tế của cây mẹ. Việc nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm phân bón hữu cơ nhằm cung cấp dinh dưỡng, cải tạo tính chất lý - hóa và sinh học đất, hạn chế bệnh hại rễ là định hướng cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định được loại phân bón hữu cơ thích hợp cho cây măng tây xanh trồng tại thôn Nha Hố, xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của cây măng tây trồng tại địa bàn nghiên cứu dưới tác động của các loại phân bón hữu cơ khác nhau.
    2. Xác định ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ đến các yếu tố cấu thành năng suất, tình hình phát sinh sâu bệnh hại và năng suất cây măng tây xanh.
    3. Xác định loại phân bón hữu cơ hợp lý cho cây măng tây tại địa bàn nghiên cứu nhằm mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các chỉ tiêu sinh trưởng, yếu tố cấu thành năng suất, năng suất, phẩm chất thương phẩm và sâu bệnh hại trên giống măng tây xanh Grande F1 giai đoạn kinh doanh.
  • Phạm vi không gian: Thực nghiệm đồng ruộng bố trí tại Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố, thuộc thôn Nha Hố, xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai theo dõi và thu thập số liệu thực địa từ tháng 2/2023 đến tháng 4/2023 (chu kỳ thực tập chuyên đề 3 tháng).

Cơ sở khoa học và phương pháp khảo nghiệm

Cơ sở khoa học của nghiên cứu dựa trên đặc tính thực vật học, sinh thái học của cây măng tây xanh và nguyên lý tác động của dinh dưỡng hữu cơ khoáng vi lượng, acid humic, acid fulvic đối với đất cát pha, thịt nhẹ trong điều kiện bán khô hạn nhiệt đới gió mùa điển hình của huyện Ninh Sơn (nhiệt độ trung bình năm 27°C, lượng mưa thấp 700 - 800 mm, bức xạ nhiệt 160 Kcal/cm²). Biện pháp kỹ thuật nền tuân thủ theo quy trình canh tác măng tây xanh ứng dụng công nghệ cao do Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố ban hành (theo Quyết định số 346/QĐ-TT-CLT năm 2020 của Cục Trồng trọt).

Vật liệu khảo nghiệm gồm giống măng tây xanh Grande F1 (nguồn gốc do Công ty TNHH Nông sản Dũng Hà cung cấp) có khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh thối rễ do nấm Fusarium spp. và miễn dịch với AV II. Thí nghiệm so sánh 4 công thức phân bón hữu cơ bổ sung qua gốc:

Ký hiệu công thức Loại phân bón khảo nghiệm Nhà sản xuất / Phân phối Thành phần dinh dưỡng ghi nhận Liều lượng sử dụng
CT1 (Đối chứng) HUMATEPLUS Công ty TNHH SX-TM-DV Hóa Nông Bo: 2.000 ppm; Nts: 2%; Chất hữu cơ: 4,9%; Axit humic: 1,9%; phụ gia vitamin, amino acid 72 ml / 10 lít nước / 28,80 m²
CT2 Đạm sâm 39-19-9 + TE Công ty TNHH An Bình VN Nts: 39%; P₂O₅hh: 19%; K₂Ohh: 9%; TE chelate EDTA, hữu cơ tổng hợp, fulvat acid amin, cytokinin, chitosan, azadirachtin 29 ml / 10 lít nước / 28,80 m²
CT3 SUPER GREEN Công ty TNHH TM-SX Phước Hưng N: 5%; P₂O₅: 2,1%; K₂O: 1.520 ppm; Ca: 100 ppm; B: 115 ppm; pH: 6; Axit humic 58 ml / 10 lít nước / 28,80 m²
CT4 BIOPLUS Omnia Specialities Australia Pty Ltd (Công ty BOLY phân phối) Chất hữu cơ: 12%; Axit humic: 11%; Axit fulvic: 1%; Nts: 5%; pH: 9; tỷ trọng: 1,1 15 ml / 10 lít nước / 28,80 m²

Phương pháp bố trí thí nghiệm:

  • Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 4 công thức, 3 lần lặp lại (12 ô thí nghiệm). Diện tích mỗi ô là 28,80 m² (kích thước ô: 8 m × 3,6 m; quy cách 3 hàng × 18 cây = 54 bụi/ô). Tổng diện tích thực nghiệm hữu hiệu là 345,60 m² (chưa tính rãnh cách ly và hàng bảo vệ).
  • Mật độ canh tác: Khoảng cách hàng cách hàng 120 cm, cây cách cây 45 cm, tương ứng mật độ 18.500 cây/ha.
  • Phân bón nền chung cho toàn bộ các công thức: 180 kg P₂O₅ + 160 kg K₂O + 10 tấn phân hữu cơ vi sinh bón cho 1 ha. Định kỳ 7 ngày tưới thúc phân thí nghiệm vào gốc 1 lần bằng bình phun chuyên dụng.
  • Quản lý canh tác và bảo vệ thực vật: Tưới nhỏ giọt tự động 2 lần/ngày (duy trì độ ẩm đất 70 - 100%); sau trồng 135 ngày bấm ngọn ở chiều cao 1,2 m và nuôi dưỡng 4 - 5 cây mẹ khỏe mạnh. Phòng trừ sâu hại bằng thuốc sinh học Radiant 60SC (500 ml/ha); phòng trừ bệnh cháy thân, thán thư, đốm tím bằng Score 250EC (0,625 L/ha), Nano đồng oxyclorua (1,25 kg/ha), Nano bạc đồng plus (0,75 L/ha).
  • Thu thập và xử lý số liệu: Theo dõi định kỳ 10 bụi cố định ở hàng giữa mỗi ô. Đo đếm động thái ra chồi (định kỳ 15 ngày/lần trong 75 ngày), chiều cao cây, đường kính gốc thân, chiều dài chồi măng, đường kính chồi măng, số lượng măng/bụi/ngày, trọng lượng trung bình một chồi măng, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu. Phân cấp thương phẩm theo 3 loại: Loại 1 (đường kính > 10 - 30 mm, dài 25 cm), Loại 2 (đường kính 6 - 9 mm, dài 22 cm), Loại 3 (đường kính 3 - 6 mm, dài 22 cm). Điều tra mật độ sâu hại (con/bụi), tỷ lệ bệnh (%) và chỉ số bệnh (%). Số liệu được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel và Statistix 10.0, so sánh giá trị trung bình qua trắc nghiệm sai biệt nhỏ nhất có ý nghĩa (LSD) ở mức xác suất P = 0,05.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này trình bày cơ sở lý luận về nguồn gốc, phân loại thực vật, đặc điểm hình thái và sinh thái của cây măng tây. Cây thích hợp với biên độ nhiệt từ 20 - 30°C, đất tơi xốp tầng canh tác dày trên 1 - 1,5 m và độ ẩm đất 70 - 75%. Tác giả hệ thống hóa tình hình sản xuất măng tây quốc tế dựa trên dữ liệu FAOSTAT: diện tích toàn cầu tăng từ 1.309.387 ha (năm 2013) lên 1.583.619 ha (năm 2018), trong đó Trung Quốc dẫn đầu thế giới chiếm 90,35% diện tích (năm 2018 đạt 1.430.605 ha; năm 2021 đạt 1.440.009 ha); Iran tuy có diện tích nhỏ nhưng đạt năng suất cao nhất thế giới (28,29 tấn/ha năm 2018 và 25,93 tấn/ha năm 2021).

Tại Việt Nam, cây măng tây nhập nội từ 1988 nhưng chính thức phát triển sản xuất thương phẩm từ năm 2005; Ninh Thuận là trung tâm sản xuất măng tây lớn nhất cả nước nhờ điều kiện khô nóng đặc trưng, hình thành các chuỗi liên kết tại HTX rau an toàn Văn Hải, Công ty TNHH Linh Đan Ninh Thuận và Câu lạc bộ khởi nghiệp Ninh Thuận. Tác giả cũng tổng hợp các công trình nghiên cứu dinh dưỡng đạm và phân bón khoáng của Lu Xi-kang (2005), Nicola (2000), Asghar Hussain (2006), Paschold (1999) trên thế giới, cũng như các nghiên cứu trong nước của Mai Thị Phương Anh (1999), Lư Cẩm và Lê Hồng Triều (2011), Nguyễn Quang Chơn (2020) về bentonite kết hợp phân hữu cơ và Nguyễn Văn Sơn cùng cộng sự (2018 - 2019) tại Nha Hố xác định liều lượng 200 kg N/ha cho năng suất măng cao nhất. Vai trò của phân hữu cơ vi sinh, nấm đối kháng Trichoderma và các chủng vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân trong việc cải thiện kết cấu đoàn lạp và độ phì nhiêu đất được luận giải chi tiết.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy cách giống măng tây xanh Grande F1, nguồn gốc xuất xứ và các chỉ tiêu phân tích thành phần của 4 loại phân bón hữu cơ thí nghiệm (HUMATEPLUS, Đạm sâm 39-19-9+TE, SUPER GREEN, BIOPLUS). Tác giả thiết lập sơ đồ thực nghiệm thực địa trên nền diện tích 345,60 m² gồm 12 ô thử nghiệm theo bố cục RCBD chuẩn. Quy trình canh tác kiểm soát chặt chẽ chế độ tưới nước nhỏ giọt, chế độ bấm ngọn tạo tán sau 135 ngày tuổi (giữ 4 - 5 cây mẹ) và quy cách thu hái thủ công vào khung giờ 4 - 6 giờ sáng khi măng đạt độ cao 25 - 28 cm. Phương pháp tính toán năng suất lý thuyết dựa trên công thức nhân số măng trung bình/bụi/ngày với trọng lượng trung bình một măng và mật độ 18.500 cây/ha. Phương pháp điều tra sâu bệnh hại tuân thủ công thức tính mật độ sâu (con/bụi), tỷ lệ bệnh hại và chỉ số bệnh hại theo quy chuẩn bảo vệ thực vật, kết hợp quy trình xử lý phương sai ANOVA một nhân tố trên phần mềm Statistix 10.0.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tác giả phân tích dữ liệu thực nghiệm qua hệ thống 9 bảng thống kê và biểu đồ động thái sinh trưởng:

  1. Động thái ra chồi: Ở giai đoạn đầu (15 ngày sau bón - NSB), CT1 đối chứng có số chồi cao nhất đạt 1,84 chồi/bụi, trong khi CT4 đạt 1,74 chồi/bụi. Tuy nhiên từ 30 NSB trở đi, CT4 bộc lộ ưu thế vượt trội: đạt 3,91 chồi/bụi ở 30 NSB; 5,95 chồi/bụi ở 60 NSB (so với CT1 đạt 5,13 chồi/bụi; CT3 đạt 5,29 chồi/bụi; CT2 đạt 5,52 chồi/bụi). Ở giai đoạn cuối chu kỳ thu hoạch (75 NSB), tốc độ ra chồi giảm ở tất cả các công thức, nhưng CT4 vẫn duy trì mức cao nhất (5,81 chồi/bụi) và giảm ít nhất (-0,15 chồi/bụi).
  2. Đặc điểm hình thái cây mẹ: Chiều cao cây ở giai đoạn bắt đầu thu hoạch đạt từ 167,60 cm đến 173,03 cm. CT4 đạt chiều cao cao nhất (173,03 cm), có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê so với CT1 đối chứng (167,60 cm, thấp nhất). Đường kính thân gốc dao động từ 8,17 mm đến 9,13 mm, trong đó CT3 đạt kích thước lớn nhất (9,13 mm), tiếp theo là CT4 (8,77 mm), CT1 (8,47 mm) và CT2 đạt nhỏ nhất (8,17 mm).
  3. Kích thước và các yếu tố cấu thành năng suất măng: Chiều dài măng thu hoạch đạt cao nhất ở CT4 (33,80 cm), ngắn nhất ở CT1 (28,16 cm). Đường kính măng đạt giá trị cao nhất ở CT4 (9,70 mm), vượt trội có ý nghĩa thống kê so với CT1 đối chứng (8,02 mm). Số lượng măng bình quân trên bụi mỗi ngày đạt cao nhất ở CT4 (0,73 măng/bụi), tiếp theo là CT2 (0,66 măng/bụi), CT3 (0,61 măng/bụi) và thấp nhất ở CT1 (0,57 măng/bụi). Trọng lượng trung bình một măng biến thiên từ 14,07 g đến 16,02 g; CT4 đạt khối lượng chồi cao nhất (16,02 g/măng), cao hơn chắc chắn ở mức tin cậy 95% so với CT1 (14,07 g/măng).
  4. Năng suất và phẩm chất thương phẩm: Khối lượng măng thu hoạch thực tế bình quân trên ô thí nghiệm 28,80 m² mỗi ngày đạt 0,53 kg ở CT4; 0,45 kg ở CT2; 0,43 kg ở CT3 và 0,42 kg ở CT1. Năng suất thực thu quy đổi ngày đạt cao nhất ở CT4 (182,18 kg/ha/ngày), tương ứng năng suất quy đổi cả năm (chu kỳ thu hoạch 9 tháng) đạt 49,19 tấn/ha/năm; cao hơn công thức đối chứng CT1 (144,10 kg/ha/ngày và 38,91 tấn/ha/năm) tới 10,28 tấn/ha/năm. Tỷ lệ măng loại 1 đạt đỉnh ở CT4 (29,65%), măng loại 2 đạt 48,91% và tỷ lệ măng loại 3 giảm xuống mức thấp nhất (14,75%). Ngược lại, CT1 có tỷ lệ măng loại 3 phế phẩm lên tới 39,80%.
  5. Diễn biến sâu bệnh hại và hiệu quả kinh tế: Sâu hại phổ biến ghi nhận gồm sâu khoang (Pseudaletia unipuncta) và sâu xanh da láng (Spodoptera exigua). Do sinh khối phát triển tốt, CT4 có mật độ sâu hại cao nhất (sâu xanh 1,53 con/bụi; sâu khoang 0,30 con/bụi). Về bệnh hại, bệnh thán thư ghi nhận tỷ lệ bệnh cao nhất ở CT1 (7,80%, chỉ số bệnh 3,13%) và thấp nhất ở CT2 (tỷ lệ bệnh 6,03%, chỉ số bệnh 2,20%); ở CT4 tỷ lệ bệnh là 7,52% và chỉ số bệnh là 2,90%. Bệnh nứt thân gây hại cao nhất ở CT1 (tỷ lệ bệnh 9,03%, chỉ số bệnh 0,27%), trong khi CT4 có tỷ lệ bệnh nứt thân thấp nhất (7,60%) cùng chỉ số bệnh 0,27%. Về bài toán kinh tế, chi phí đầu tư ở CT1 cao nhất (680.000 ngàn đồng/ha), CT3 và CT4 tương đương (608.000 ngàn đồng/ha), CT2 thấp nhất (604.000 ngàn đồng/ha); việc bón phân BIOPLUS (CT4) mang lại mức doanh thu và lợi nhuận cao nhất trong 4 công thức thử nghiệm.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng chi tiết về sự sai khác giữa các dòng phân bón hữu cơ trên giống măng tây xanh Grande F1 tại địa bàn Nha Hố, Ninh Thuận:

Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị tính CT1 (Đối chứng) CT2 (Đạm sâm) CT3 (SUPER GREEN) CT4 (BIOPLUS) Sai khác LSD₀.₀₅
Số chồi măng (60 NSB) chồi/bụi 5,13 5,52 5,29 5,95 -
Chiều cao cây thu hoạch cm 167,60 170,73 167,93 173,03 3,74
Đường kính thân cây mẹ mm 8,47 8,17 9,13 8,77 0,64
Chiều dài chồi măng cm 28,16 31,40 30,10 33,80 3,72
Đường kính chồi măng mm 8,02 9,01 8,61 9,70 0,38
Số măng thu hoạch TB măng/bụi/ngày 0,57 0,66 0,61 0,73 0,96
Trọng lượng TB 1 măng g/măng 14,07 15,00 14,29 16,02 2,02
Năng suất lý thuyết kg/ha/ngày 147,45 182,65 162,29 215,06 29,05
Năng suất thực thu kg/ha/ngày 144,10 157,41 149,31 182,18 26,60
Năng suất thương phẩm năm tấn/ha/năm 38,91 42,50 40,31 49,19 7,18
Tỷ lệ măng loại 1 % 23,35 25,65 25,18 29,65 4,21
Tỷ lệ măng loại 2 % 33,46 41,73 38,90 48,91 8,35
Tỷ lệ măng loại 3 % 39,80 16,38 20,67 14,75 5,24
Mật độ sâu xanh con/bụi 1,48 1,13 1,30 1,53 0,27
Mật độ sâu khoang con/bụi 0,17 0,19 0,28 0,30 0,76
Tỷ lệ bệnh thán thư % 7,80 6,03 6,87 7,52 0,87
Chỉ số bệnh thán thư % 3,13 2,20 2,90 2,90 0,66
Tỷ lệ bệnh nứt thân % 9,03 7,87 7,60 7,60 0,98
Chỉ số bệnh nứt thân % 0,27 0,20 0,27 0,27 0,88

Các đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu bao gồm:

  • Xác định được chế phẩm BIOPLUS (bổ sung 12% chất hữu cơ, 11% axit humic và 1% axit fulvic) ở liều lượng 15 ml pha trong 10 lít nước tưới cho 28,80 m² định kỳ 7 ngày/lần trên nền phân bón chuẩn là công thức tối ưu nhất cho cây măng tây xanh Grande F1 giai đoạn kinh doanh tại Ninh Thuận.
  • Minh chứng việc sử dụng phân bón hữu cơ giàu humic/fulvic acid giúp gia tăng đáng kể kích thước thương phẩm, đưa tỷ lệ măng loại 1 và loại 2 đạt tổng cộng 78,56%, hạ tỷ lệ măng loại 3 xuống còn 14,75% (so với 39,80% ở đối chứng), từ đó nâng cao giá trị thương phẩm xuất bán.
  • Cung cấp dẫn liệu thực tế về khả năng thay thế hoặc giảm thiểu phân bón hóa học nhằm duy trì độ bền vững của đất thịt nhẹ trong điều kiện khí hậu bán khô hạn Ninh Thuận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung khóa luận, tác giả chỉ ra các hạn chế và đề xuất định hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Đề tài chỉ mới thực hiện khảo nghiệm trong phạm vi hẹp thời gian 3 tháng (từ tháng 2/2023 đến tháng 4/2023), chưa đánh giá được toàn diện diễn biến năng suất qua trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng nhiều năm của cây măng tây lưu niên.
  • Thí nghiệm mới khảo sát ở mức liều lượng đơn nhất theo khuyến cáo nhà sản xuất cho từng loại phân, chưa thiết lập được thang nồng độ/liều lượng vi sai nhằm xác định chính xác điểm tối ưu kinh tế - kỹ thuật của chế phẩm BIOPLUS.
  • Chưa tiến hành phân tích sự biến động của các chỉ tiêu hóa lý đất (đặc biệt là pH đất, dung tích hấp thu CEC và hàm lượng mùn/chất hữu cơ) trước và sau chu kỳ bón phân.
  • Hướng mở rộng: Tác giả kiến nghị cần tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của các mức liều lượng BIOPLUS khác nhau; mở rộng đánh giá ảnh hưởng của phân bón hữu cơ đến hệ rễ tích lũy (vị trí, chiều dài, đường kính và sức sống của rễ củ); đồng thời đo lường định kỳ sự thay đổi hàm lượng hữu cơ và pH đất canh tác sau nhiều vụ bón phân liên tục.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Trồng trọt và Nông nghiệp hữu cơ có nhu cầu tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa RCBD trên cây rau ăn chồi lưu niên.
  • Các đơn vị sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, hợp tác xã và hộ nông dân canh tác măng tây tại Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa trong việc lựa chọn loại phân hữu cơ vi sinh, humic phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ măng loại 1.
  • Phần đáng tham khảo nhất của văn bản là hệ thống số liệu thực nghiệm đối chứng chi tiết tại Chương 3 (về mối tương quan giữa phân hữu cơ với tốc độ ra chồi, kích thước chồi măng và tỷ lệ phân loại thương phẩm) cùng quy trình kỹ thuật canh tác bấm ngọn, điều tiết nước tưới nhỏ giọt được chuẩn hóa tại Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu sử dụng giống măng tây nào và thí nghiệm được thực hiện trên nền phân bón cơ bản ra sao?
Nghiên cứu sử dụng giống măng tây xanh Grande F1 (do Công ty TNHH Nông sản Dũng Hà phân phối). Nền phân bón chung áp dụng đồng nhất cho tất cả các công thức thí nghiệm trên 1 ha gồm: 180 kg P₂O₅ + 160 kg K₂O + 10 tấn phân hữu cơ vi sinh.

2. Công thức phân bón hữu cơ nào cho năng suất và chất lượng chồi măng cao nhất trong thí nghiệm?
Công thức 4 (phân nền + phân hữu cơ BIOPLUS) đạt kết quả tốt nhất trên tất cả các chỉ tiêu năng suất và phẩm chất: năng suất thực thu đạt 182,18 kg/ha/ngày (tương đương 49,19 tấn/ha/năm), tỷ lệ măng loại 1 đạt 29,65%, tỷ lệ măng loại 2 đạt 48,91%, và tỷ lệ măng loại 3 thấp nhất chỉ 14,75%.

3. Kích thước chồi măng và trọng lượng măng ở công thức BIOPLUS có sự chênh lệch như thế nào so với công thức đối chứng?
Ở công thức BIOPLUS (CT4), chiều dài măng đạt 33,80 cm, đường kính măng đạt 9,70 mm và trọng lượng trung bình đạt 16,02 g/măng. Trong khi đó, ở công thức đối chứng HUMATEPLUS (CT1), chiều dài măng chỉ đạt 28,16 cm, đường kính măng đạt 8,02 mm và trọng lượng trung bình đạt 14,07 g/măng.

4. Mật độ sâu hại và tỷ lệ bệnh hại ở công thức sử dụng BIOPLUS diễn biến ra sao so với các công thức khác?
Ở công thức BIOPLUS (CT4), do cây sinh trưởng thân lá mạnh nên mật độ sâu xanh (1,53 con/bụi) và sâu khoang (0,30 con/bụi) ghi nhận ở mức cao nhất trong 4 công thức. Tuy nhiên, về bệnh hại, CT4 có tỷ lệ bệnh nứt thân thấp nhất (7,60%, chỉ số bệnh 0,27%); còn tỷ lệ bệnh thán thư ở mức 7,52% với chỉ số bệnh 2,90% (thấp hơn công thức đối chứng CT1 có tỷ lệ bệnh thán thư 7,80% và chỉ số bệnh 3,13%).

5. Quy cách kỹ thuật thu hoạch măng tây trong nghiên cứu được tiến hành như thế nào?
Thu hoạch được tiến hành vào sáng sớm từ 4 - 6 giờ sáng hàng ngày (trước khi mặt trời mọc) khi chồi măng cao cách mặt đất từ 25 - 28 cm. Thao tác thu hoạch bằng tay: nắm chặt gốc chồi măng, nghiêng một góc 30 - 45° rồi giật nhẹ để chồi tách khỏi rễ trụ, sau đó nén chặt đất tại vị trí đã lấy măng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mông Thị Nhật Ánh đã đánh giá thực nghiệm ảnh hưởng của 4 chế phẩm phân bón hữu cơ trên cây măng tây xanh Grande F1 trồng tại Nha Hố, Ninh Thuận. Kết quả khẳng định công thức bổ sung phân bón BIOPLUS mang lại hiệu quả vượt trội về khả năng phát sinh chồi, kích thước chồi măng, nâng năng suất thực thu lên 49,19 tấn/ha/năm và tối ưu hóa tỷ lệ măng thương phẩm loại 1 và loại 2. Đây là nguồn dữ liệu thực nghiệm giá trị, đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn cho định hướng chuyển đổi sang canh tác măng tây an toàn và bền vững tại vùng bán khô hạn Nam Trung Bộ.