Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 1.1 Nguồn gốc, phân bố và vị trí phân loại của măng tây 1.1 Nguồn gốc, phân bố Theo Boswell, Startevant và Vavilop, măng tây hiện trồng có nguồn gốc từ khu vực phía đông Địa Trung Hải và Tiểu Á. Măng tây tự nhiên mọc ở châu Âu, vùng Kavkaz và phía tây Siberia ( dẫn theo Mai Thị Phương Anh, 1999). Một số tài liệu cho thấy măng tây được phân bố từ Địa Trung Hải đến Siberia, được tìm thấy như loài bản địa của dãy núi Altai (Cộng hòa Altai, Liên bang Nga) ( Kondo Katsuhiko, 2014) và măng tây được ghi nhận ở châu Mỹ và New Zealand. Trước khi được dùng làm thực phẩm, măng tây hoàn toàn được coi như một loại cây thuốc được dùng cho các bệnh về tim, phù thũng và đau răng.
Người Hy Lạp là người đầu tiên đặt tên, gieo trồng măng tây như một loại rau cao cấp vào những năm 200 trước công nguyên. Măng tây được trồng và thu hoạch từ tự nhiên trong hơn một nghìn năm và hiện đã du nhập ở nhiều vùng lãnh thổ trên toàn thế giới: đầu tiên là ở Bắc và Nam Mỹ, Trung Quốc và châu Âu, sau đó ở Hoa Kỳ, Canada, vùng Bermuda, quần đảo Cook, Polynesia thuộc Pháp, New Caledonia, Ecuador (bao gồm quần đảo Galapagos), Nhật Bản, New Zealand, Úc và Seychelles và trở thành cây nông nghiệp quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới với giá trị xuất khẩu năm 2019 đạt 1,4 tỉ đô la Mỹ. Vị trí phân loại của măng tây Ngành: Magnoliophita Lớp: Liliospida Bộ: Asparagales Họ: Asparagaceae Chi: Asparagus Loài: Asparagus officinalis L. Bộ Măng tây (Asparagales) là một bộ trong lớp thực vật một lá mầm bao gồm 3 một số họ cây không thân gỗ.
Trong các hệ thống phân loại cũ, các họ thuộc bộ Asparagales hiện nay đã từng được xếp vào bộ Loa kèn (Liliales), và một số chi trong đó thậm chí còn được xếp vào trong họ Loa kèn (Liliaceae). Một số hệ thống phân loại còn tách một số họ được liệt kê dưới đây thành các bộ khác, bao gồm cả các bộ Phong lan (Orchidales) và bộ Diên vĩ (Iridales), trong khi các hệ thống khác, đặc biệt là hệ thống phân loại của APG lại đưa hai bộ Orchidales và Iridales vào trong bộ Asparagales. Bộ này được đặt tên theo chi Asparagus (măng tây) (Phạm Thị Ngọc, 2013). Theo Mai Thị Phương Anh (2001) một loài măng tây (có thể là Asparagus officinalis altilis nhưng có khả năng nhiều hơn là A.martimus) đã được trồng trong vườn rau của người La Mã.
Từ các loài măng tây hoang dại chỉ có A.officinalis là loài trồng trọt cho rau xanh. Springeri là loài có tính chống chịu cao với nấm Fusarium spp. nhưng không lai được với A.2 Đặc điểm thực vật học của măng tây Măng tây là cây dạng bụi, thân thảo, lá kim. Cây có hoa đơn tính màu vàng, quả màu đỏ, vỏ hạt cứng, thích hợp hơn cho vùng khí hậu nhiệt đới.
Hạt măng tây có thể nẩy mầm ở 200C, dưới 150C hạt không nảy mầm. Theo Bailey thì măng tây là một chi lớn (khoảng 150 loài) dạng cây thân thảo lưu niên có thân gỗ leo, mềm, được trồng hầu như cho mục đích lấy cành lá làm cây cảnh. Cây cao khoảng 1,3 - 3,8 mét, có thể sống từ 15 - 20 năm, khi cây mọc cao thân ngã màu xanh và phân cành nhiều (Trích dẫn bởi Mai Thị Phương Anh, 1999). Lá măng tây thuộc loại lá kim, thoát nước ít nên có khả năng chịu hạn, rễ chính rất ngắn và chết ngay sau khi hạt nẩy mầm, chỉ có rễ trụ đứng thẳng, các rễ khác mọc ngang tạo thành một hệ chùm rễ.
Măng được hình thành gần rễ trụ, đây là nơi tập trung chất dinh dưỡng khi cây còn non. Trước khi nhú khỏi mặt đất, măng có màu trắng, mềm, khi mọc cao khỏi mặt đất chúng ngả màu xanh và phát sinh cành có thể dài tới 2 m (Nguyễn Thị Sao, 2008). Măng tây là cây đơn tính biệt chu, nhị và nhuỵ không hoàn chỉnh, chỉ có một số ít trong số các hoa đậu quả được. Các hoa cái có dấu tích của nhị đực nhưng không 4 có khả năng sinh hạt phấn.
Hoa măng tây được sinh ra trên các cành mới và đạt được độ thành thục trước khi cành mang hoa thành thục. Các cây có hoa đực thường cho nhiều măng, sống lâu hơn và sản lượng măng cao hơn cây hoa cái khoảng 25% nhưng chất lượng măng kém hơn. Quả măng tây thuộc loại quả mọng, đường kính trung bình từ 8 - 9 mm, có 3 ngăn, mỗi ngăn có 2 hạt, khi chín quả có màu đỏ, hạt có màu đen, vỏ rất cứng đường kính trung bình 1 - 3 mm, 40 - 60 hạt/g. Cây thường cho măng theo đợt, đợt đầu tiên thu măng khi cây từ 4-6 tháng tuổi khi cây cao khoảng 1 - 1,5 m thì tiến hành bấm ngọn để hạn chế chiều cao và bắt đầu thu măng.
Trong năm đầu mỗi đợt thu hoạch kéo dài 2 - 3 tuần. Sau đó nghĩ dưỡng cây chủng bị cho đợt thu hoạch tiếp theo, thời gian nghỉ từ 25 - 40 ngày tùy thuộc vào tình trạng cây mẹ. Sang năm thứ hai mỗi đợt thu hoạch kéo dài 4 - 6 tuần. Năm thứ 3 thời gian thu hoạch mỗi đợt từ 6 - 8 tuần hoặc có thể lâu hơn tùy thuộc vào cây mẹ.
Măng được thu hoạch trong nhiều năm (8 - 10 năm) nhưng sản lượng lớn thường tập trung ở các năm thứ 3 - thứ 5. Sang năm thứ 7 - 8, khi năng suất và chất lượng giảm thì cần phá đi để trồng mới. Các cây chủ yếu hoa đực hình thành rất nhiều mầm và sống lâu hơn, cho sản lượng măng cao hơn cây hoa cái khoảng 25% nhưng chất lượng kém hơn ( Mai Thị Phương Anh, 1999).3 Đặc tính sinh thái Măng tây xanh thích hợp trồng ở những vùng có khí hậu nhiệt đới và có yêu cầu về điều kiện sinh thái như sau. Nhiệt độ: thích hợp để cây măng tây xanh sinh trưởng và phát triển là trong khoảng 25 - 33oC.
Nếu nhiệt độ quá cao >35oC hoặc <12oC, tiết trời nhiều sương giá cây sẽ không thể sinh trưởng và cho hiệu quả kinh tế thấp. Nhiệt độ để hạt măng tây xanh nảy mầm là khoảng 20 - 25oC. Nhiệt độ từ 20 - 30oC là phù hợp nhất để canh tác cây măng tây xanh. Ánh sáng: măng tây là cây ưa sáng, không chịu bóng râm, thời gian chiếu sáng thích hợp để trồng măng tây xanh là trên 7 - 8 tiếng/ngày.
Nếu trồng măng tây ở nơi có bóng che cây sẽ quang hợp thấp, sinh trưởng kém và năng suất thực thu giảm. 5 Độ ẩm, lượng mưa và nước tưới: Măng tây xanh ưa thích độ ẩm không khí khoảng 60 - 70%, độ ẩm đất 70 - 75%. yêu cầu về lượng mưa trung bình thấp <1000 mm/năm. Yêu cầu nước tưới là nước ngọt, không bị nhiễm phèn, mặng.
Măng tây là loại cây không chịu được ngập úng, nếu ngập úng nước quá 8 tiếng sẽ làm chồi măng bị biến dạng, rễ bị thối và không cho thu hoạch. Ngập nước 24 tiếng cây măng tây xanh sẽ bị chết. Đất trồng: Loại đất thích hợp để trồng măng tây là đất thịt nhẹ, đất cát pha, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, đất phù sa mới, đất bồi đắp ven sông.5, nếu pH dưới 4 cây măng tây xanh sẽ bị bạc lá, không phát triển do bị rối loạn dinh dưỡng. Mực nước ngâm phải sâu hơn 1m.
Đất trồng cây măng tây xanh phải có tần canh tác dày hơn 1 - 1.5m, tốt nhất là thế đất có gì cao ráo, thoát nước tốt, đất bằng phẳng, độ dốc không quá 10o, không bị ngập úng, không nhiễm phèn mặn. Không trồng trên đất có tầng đất sét cứng, lẫn sỏi, đá ngầm. Măng tây xanh thích hợp trồng ở khu vực có gió nhẹ dưới cấp 3 (3 -5m/s). Nếu trồng ở những vùng oi bức, không có gió cây sẽ dễ bị bệnh hại tấn công.
Gió nhẹ giúp lưu thông không khí hỗ trợ cho quá trình trao đổi chất của cây măng tây xanh. Nếu gió lớn từ cấp 4 trở lên sẽ làm cây bị gãy đổ, bật gốc, biến dạng chồi măng, năng suất và phẩm chất măng tây xanh bị giảm. Gió mạnh làm tăng cường sự bốc hơi của nước làm cây nhanh khô héo, giảm sức sinh trưởng.4 Giá trị kinh tế của cây măng tây Măng tây được coi là một loại dược liệu có giá trị cao vì thành phần hoá dược. Saponin và fructan (asparagose và asparagosine) là chất chống oxy hóa, chất kích thích miễn dịch, chống dị ứng, kháng khuẩn, và giảm nguy cơrối loạn như táo bón, tiêu chảy cũng như các bệnh như loãng xương, béo phì, bệnh tim mạch, thấp khớp và tiểu đường.
Saponin còn là chất kháng khuẩn có tác dụng ức chế nấm mốc và bảo vệ cây khỏi côn trùng nên xem là nhóm các phân tử bảo vệ phytoanticipin hoặc phytoprotectants. Rễ măng tây cũng được sử dụng như thuốc nhuận tràng, thuốc bổ, thuốc kích thích tình dục, thuốc lợi sữa và chữa các bệnh về thận và gan. So với chồi, rễ có tác 6 dụng lợi tiểu hơn và an thần. (2015), rễ măng tây có tác dụng chống tiêu chảy, kiết lỵ và suy nhược cơ thể, bệnh goutte, chứng phù, thấp khớp và hạ huyết áp.
Chồi măng tây được sử dụng như một món khai vị chứa nhiều dưỡng chất có lợi cho sức khoẻ vì chứa một lượng lớn acid folic (cần thiết cho việc sản xuất các tế bào hồng cầu), tinh dầu, asparagine, arginine, tyrosine, flavonoid (kaempferol, quercitin, rutin), nhựa và tannin. Hiện nay, thị trường tiêu thụ măng tây xanh rất rộng lớn. Theo thống kê của FAO (2017), các nước nhập khẩu măng tây hàng đầu gồm Mỹ (227.326 tấn), Hà Lan (12. đem lại giá trị giá trị kinh tế cao cho các nước xuất khẩu.
Tổng kim ngạch xuất khẩu măng tây năm 2019 là 1,4 tỉ đô la Mỹ. Ở Việt Nam, trồng măng tây cho thu nhập kinh tế khá cao so với các loại rau củ quả khác, người trồng có thể lãi 300 triệu - 500 triệu đồng/ha/năm tùy theo kỹ thuật trồng và chăm sóc. Măng tây sau khi thu hoạch, ngoài được tiêu thụ dưới dạng rau tươi, măng tây còn được chế biến thành măng tây đóng hộp, trà túi lọc măng tây,…có giá trị kinh tế cao ( Nguyễn Văn Tạm, 2017).2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ măng tây trên thế giới và trong nước 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ măng tây trên thế giới Ở các nước trên thế giới, Măng tây là một loại rau thực phẩm giàu dinh dưỡng được mọi người dùng phổ biến như rau xanh trong bữa ăn hàng ngày nhiều như người Việt Nam ăn rau Muống.