phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về ODA và vốn vay ƣu đãi. Phƣơng pháp nghiên cứu. Đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn vay ƣu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi tại Việt Nam giai đoạn 2000-2015 Chƣơng 4.
Giải pháp giúp sử dụng ODA và vốn vay ƣu đãi từ các nhà tài trợ mới nổi có hiệu quả. 3 CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ODA VÀ VỐN VAY ƢU ĐÃI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ODA (Hỗ trợ phát triển chính thức) và vốn vay ƣu đãi đã thu hút đƣợc nhiều quan tâm nghiên cứu của các học giả trên thế giới và Việt Nam. Về cơ bản, các nghiên cứu về ODA và vốn vay ƣu đãi có thể phân chia thành những mảng vấn đề sau: Tổng quan về ODA và vốn vay ƣu đãi: Nghiên cứu về khái niệm, hình thức, đặc điểm, tác động của ODA đối với tăng trƣởng.
Về khái niệm, hình thức, đặc điểm: Helmut Fuher (1996) đã đƣa ra khái niệm về ODA và phân biệt ODA với các vốn đầu tƣ khác qua hai đặc điểm chính: (i) Đây là khoản hỗ trợ phát triển chính thức; (ii) Có bao gồm thành tố hỗ trợ. Về tác động của ODA và vốn vay ƣu đãi đối với tăng trƣởng: Quan điểm thứ nhất: viện trợ và vay ƣu đãi có tác động tích cực đến tăng trƣởng, tiêu biểu là các nghiên cứu Papanek, G. (1973), “Viện trợ, Vốn đầu tƣ tƣ nhân nƣớc ngoài, Tiết kiệm và Tăng trƣởng ở các nƣớc kém phát”, Snyder, Donald W. (1993), “Thành kiến của các nhà tài trợ đối với các tiểu quốc: Một nhân tố bị bỏ qua trong việc phân tích về viện trợ nƣớc ngoài và tăng trƣởng kinh tế”, Hansen, Henrik and Finn Tarp (2000), “Bàn về hiệu quả viện trợ.”, Morrissey, Oliver (2001), “Viện trợ có làm tăng sự phát triển?”, Teboul, R., and E Moustier (2001), “Viện trợ nƣớc ngoài và tăng trƣởng: trƣờng hợp của các nƣớc Nam Địa Trung Hải”, Tun Lin Moe (2001) “Nghiên cứu kinh nghiệm về mỗi quan hệ giữa ODA và phát triển giáo dục, con ngƣời” Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng viện trợ quốc tế có tác động tích cực đến tăng trƣởng kinh tế, cụ thể là: Papanek (1973), đã nghiên cứu các 4 biến độc lập gồm viện trợ quốc tế, đầu tƣ nƣớc ngoài, các nguồn tiền khác và nguồn vốn trong nƣớc và chứng minh rằng viện trợ quốc tế tác động tích cực đến tăng cƣởng kinh tế hơn là các biến còn lại.
Cùng quan điểm đó, Snyder (1993) đã nghiên cứu các trƣờng hợp của Indonesia (những năm 1970), Bolivia và Ghana (cuối những năm 1980), Uganda (những năm 1990) đã kết luận rằng viện trợ nƣớc ngoài đã góp phần quan trọng trong việc giúp các nƣớc này thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế để có đƣợc mức độ phát triển nhanh chóng. Hansen và Tarp (2000) đã đƣa ra một nghiên cứu tổng quan, và kết luận rằng viện trợ và đầu tƣ có mối quan hệ tích cực. Theo Morrissey, (2001), viện trợ và vay ƣu đãi tác động tích cực đến tăng trƣởng thông qua: tăng đầu tƣ, năng lực nhập khẩu công nghệ, thiết bị; tác động tích cực đến đầu tƣ trực tiếp; đẩy mạnh hiệu quả sử dụng vốn và khuyến khích những thay đổi công nghệ và kỹ thuật. Teboul và Moustier (2001) cho thấy lƣợng vốn ODA từ bên ngoài ảnh hƣởng tích cực đối với trƣờng hợp của các nƣớc trong tiểu vùng Sahara Châu Phi.
Hỗ trợ phát triển từ nƣớc ngoài đã tác động gia tăng tiết kiệm và tăng trƣởng GDP, góp phần phát triển kinh tế các nƣớc tiếp nhận ODA của sáu quốc gia đang phát triển trên biển Địa Trung Hải giai đoạn 1960-1966. Tun Lin Moe (2001) với nghiên cứu của mình đã đánh giá tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào sự phát triển giáo dục và con ngƣời ở tám quốc gia đƣợc lựa chọn tại khu vực Nam Á và chỉ ra sự khác biệt các chỉ số phát triển con ngƣời; cơ sở hạ tầng và chất lƣợng giáo trình, giáo viên đã đƣợc cải thiện sau 15 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA. Ngƣợc lại, quan điểm thứ hai cho rằng viện trợ và vốn vay ƣu đãi có tác động tiêu cực đến tăng trƣởng. Các nghiên cứu điển hình gồm có Boone (1996) “Chính sách và Hiệu quả của Viện trợ nƣớc ngoài”, Knack, Stephen (2000), “Sự phụ thuộc viện trợ và chất lƣợng quản trị: Nghiên cứu thực nghiệm”, Gong, Liutang và Zou, Heng-fu (2001), “Viện trợ nƣớc ngoài 5 làm giảm cung ứng lao động và tích lũy vốn”, Easterly, William, Ross Levine và David Roodman (2003).
“Số liệu mới, Nghi ngờ mới: Bình luận về Viện trợ, Chính sách và Tăng trƣởng”. Cụ thể là: Boone (1996) với nghiên cứu của mình đã chỉ ra các hạn chế và tác động xấu của các nƣớc đang phát triển khi tiếp nhận ODA và vốn vay ƣu đãi. Đó là việc nhận nguồn viện trợ không ổn định và không chắc chắn từ bên ngoài đã ảnh hƣởng tiêu cực đến chính sách tài chính và đầu tƣ của nƣớc nhận viện trợ. Hơn nữa, các tác giả đã khẳng định rằng tác động của ODA là nguy hiểm và tiêu cực đến phát triển kinh tế, phần lớn là do tham nhũng và thiếu hiệu quả trong quá trình thực hiện vốn ODA của nƣớc nhận viện trợ.
Knack (2000) đƣa ra các lập luận nhằm khẳng định viện trợ làm giảm chất lƣợng thể chế, tăng tham nhũng, ảnh hƣởng tiêu cực đến tăng trƣởng. Dòng vốn viện trợ lớn không có nghĩa là dẫn đến phúc lợi cao và kỳ vọng cao vào viện trợ có thể tăng chi phí và làm giảm chất lƣợng dịch vụ/sản phẩm công. Gong và Zou (2001) cũng cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa viện trợ và tăng trƣởng, cụ thể là viện trợ quốc tế làm giảm tiết kiệm quốc gia, hầu hết chuyển sang các kênh đầu tƣ và tiêu dùng, không nhận thấy mối quan hệ giữa đầu tƣ và tăng trƣởng ở những nƣớc đang phát triển. Levine và Roodman (2003) đã sử dụng một cỡ mẫu lớn hơn để xem xét lại các nghiên cứu đi trƣớc về tác động tích cực của viện trợ và chỉ ra rằng kết quả không đƣợc mạnh mẽ nhƣ trƣớc.
Tại Việt Nam, có những nghiên cứu đƣa ra thực trạng về tình hình sử dụng, vai trò của ODA và vốn vay ƣu đãi trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam nhƣ: Marcus Cox, Samuel Wangwe, Hisaaki Mitsui and Trần Thị Hạnh (2007), “Báo cáo Giám sát độc lập về thực hiện Cam kết Hà Nội: Báo cáo cuối cùng, Nhóm đối tác về hiệu quả viện trợ của Việt Nam”. 6 Katarina Kotoglou; Marcus Cox, Agulhas Applied Knowledge (2008), “Báo cáo về tình hình thực hiện Cam kết Hà Nội về hiệu quả viện trợ”. Các báo cáo về phƣơng thức viện trợ mới, báo cáo về tiến độ, hiệu quả viện trợ, các báo cáo đánh giá tình hình quản lý và sử dụng ODA, báo cáo về tình hình các ban quản lý dự án ODA của Chƣơng trình nâng cao năng lực toàn diện về quản lý ODA tại Việt Nam (CCBP) Các báo cáo đánh giá chung tình hình thực hiện các chƣơng trình, dự án ODA (do Tổ công tác ODA của Chính phủ và Nhóm các ngân hàng phát triển) đƣợc thực hiện 2 năm một lần nhằm xác định các vấn đề vƣớng mắc chung và vƣớng mắc cụ thể ảnh hƣởng đến quá trình thực hiện các chƣơng trình, dự án của sáu Ngân hàng Phát triển. Ƣu điểm chung của các nghiên cứu này là bám sát những khái niệm có tính chuẩn mực quốc tế, phân tích sâu và đƣa ra những ví dụ, so sánh quốc tế.
Các phân tích thực tiễn mang tính định hƣớng chung, trong đó có các bài học tốt cho VN. Tuy nhiên, do tính chất quá tổng quát, các khuyến nghị có phần mang tính lý thuyết, chƣa thực sự sát với điều kiện Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Việt Nam nhận đƣợc nhiều viện trợ từ các nhà tài trợ mới nổi và hiệu quả của các dự án này còn gây nhiều tranh cãi. Đánh giá và nâng cao hiệu quả viện trợ: Tuyên bố Paris (2005) đã đƣa ra các 5 tiêu chí để đánh giá hiệu quả viện trợ. Các nhà tài trợ truyền thống và các nƣớc đối tác đã cùng ký vào cam kết thực hiện theo các tiêu chí này.
Hàng năm, OECD luôn có báo cáo đánh giá các thành viên, các nƣớc cung cấp ODA; báo cáo đánh giá các chƣơng trình phát triển (theo lĩnh vực hoặc theo các quốc gia); những số liệu phân tích cơ bản về viện trợ (theo nhà tài trợ, nƣớc nhận viện trợ hay khu vực và theo lĩnh vực). Một số nghiên cứu nổi bật: 7 Báo cáo năm 2009 của DAC về Dự báo viện trợ - Điều tra Kế hoạch chi tiêu 2009-2011 của các nhà tài trợ: phân tích kế hoạch chi tiêu của các nhà tài trợ trong 3 năm, nhằm tằng khả năng dự báo viện trợ quốc tế. Tổng quan viện trợ phát triển 2010: Số liệu theo khu vực (phân tích số liệu ODA theo 5 khu vực Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Đại dƣơng). Viện trợ tốt hơn-Quản lý các nguồn lực phát triển: Báo cáo này xem xét lại quá trình tăng cƣờng quản lý tài chính công, đƣa ra các khuyến nghị nhằm đạt đƣợc các mục tiêu 2010 của Tuyên bố Paris.
Bên cạnh OECD, Ngân hàng thế giới WB cũng có nhiều báo cáo tập trung phân tích các chiến lƣợc, bài học kinh nghiệm trong sử dụng viện trợ, đánh giá hiệu quả viện trợ, mối quan hệ giữa viện trợ và quyền lực, kinh nghiệm huy động vốn của khu vực kinh tế tƣ nhân đầu tƣ phát triển ở Châu Âu và khu vực Trung Á, viện trợ tại Đông Nam Á (đặc biệt là những nghiên cứu của Daniele Calabrese, David Dollar, Paul Mosley, Jame Harrigan, John Toye. Ngoài ra, một số nghiên cứu khác đã đƣa ra những giải pháp tăng cƣờng hiệu quả ODA nhƣ: Liesbet Steer; Cecelie Wathne (2009), “Trách nhiệm giải trình: Những bài học tốt”: đánh giá cơ chế giải trình chung ở 19 quốc gia, trong đó có Việt Nam, từ đó đƣa ra các giải pháp tăng cƣờng trách nhiệm giải trình.