CHƯƠNG 1 TONG QUAN CÁC VAN DE NGHIÊN CUU 1.1 Hiện trang, kết quả nghiên cứu trước đây về sông Cầu Bay Lưu vực sông Cầu Bây bao gồm phần lớn quận Long Biển và một phn huyện Gia Lâm, nằm ở phía Bắc sông Hồng, phía Đông trung tâm thành phổ Hà Nội (Hình 1-1) Lưu vực Cầu Bây nói riêng, Hà Nội nói chung có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng, mưa. nhiều và mùa đông lạnh, mưa phin, Giữa hai mùa có hai thing chuyển giao là thing 4 và tháng 10, tạo nên 4 mùa. Mùa hè bắt đầu vào tháng S vả kéo dài tới tháng 9, nhiệt độ. trung bình khoảng 28°C.
Thing nóng nhất là thắng 6, đội khi nhiệt độ tang lê tới 38°C. “Từ thắng 9, nhiệt độ giảm dẫn và lượng mưa tăng lên. Theo số liệu thẳng kế khí hậu Hà Nội, nhiệt độ trung bình giảm din xuống 21°C vào tháng 11, 18°C vào tháng 12 và 16°C ào tháng 1 — tháng lạnh nhất trong năm. Mưa phùn xuất hiện thường xuyên vào thing 2 và tháng 3.
Đôi khi thời tiết bắt đầu thay đổi vào tháng 3 và có thể có sắm và mưa rào. xào ban đêm, Trong thai gian năm 2001 > 2013, tổng số giờ nắng biển động lớn 410,4 1.643 giờinăm, nhiệt độ không khí trung bình 23,3 + 25, [1] Lưu vực sông Cầu Bây có tổng điện tích 6.40Sha, trong dé diện tích đt canh tie nông nghiệp khoảng 800ha, còn lại là khu đô thị, công nghiệp, công viên cây xanh. Theo quy hoạch đã được Thú tướng chính phủ phê duyét năm 2013 (QHTNHN 2013), lưu vực. sông Cầu Bây được phát triển là đô thị hỗn hợp bao gử các khu đô thi, công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, ác dich vy vui chơi giải tí, công viên cây xanh, Vé cơ bản Ja đô thị ong trương lai được phát triển trên cơ sở hiện tại nhưng theo hướng hiện đại hơn 2].
Các nguồn phát sinh nước thải của lưu vực sông Cầu Bay qua khảo sắt và tham, khảo [2] gằm: = _ Nước thải sinh hoạt của khoảng 393,000 người (theo số liệu điều tra dân số đến 31/12/2013). Theo quy hoạch, dân số năm 2030 là 442.000 người, đến năm 2050 là 513. Lượng nước thải sinh hoạt theo tính toán hiện nay khoảng 35.800m /ngày; năm 2030 là 125 000mŸ/ngày; năm 2050 là 183. Hệ thống thoát nước là hg thống thoát nước chung; ~ Nude thải từ eae khu công nghiệp (KCN) tập trung Sài Đồng, Đài Tự và các cơ sở sin xuất khác nằm ngoài cc khu công nghiệp như nhà máy Sữa Hà Nội, Hóa chất "Đức Giang, Xăng dầu Đức Giang, May 10.
Tổng số các Nhà máy sin xuất công nghiệp la hon 60 cơ sở. Có nhiễu lĩnh vực sản xuất trong 46 phan lớn là cơ khí, kim loại, thiết bị có 25 nhà máy (hơn 40%): hóa chất, mỹ phẩm, được phẩm có 11 nhà may (18%); đột may có 6 cơ sở (10%); côn li là giấy, bao b thực phẩm, thức ăn gia súc; xăng dau, gas; thiết bị điện và dây cáp điện; điện tử. Tổng lượng nước. thải công nghiệp khoảng 25 000m /ngy, Hầu hét các cơ sở công nghiệp này có các nhà máy XLN) eve bộ.
Theo quy định, nước thải tir các cơ sở sản xuất này phải được xử lý đạt quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT cột B; = Nướrồ c rỉ từ bãi chôn lắp chất thải rin bãi rác) Kigu Ky có lưu lượng nước rỉ khoảng 200m /ngày, thực tế khảo sát cho thấy chưa có công trình xử lý nước rỉ rác theo quy định: = Chit thai bề mặtbị nữa trôi vào sông trong quá trình thoát nước mưa cho toàn bộ diện ch lưu vực: ~ _ Sông Cầu Bay đồng thời còn là nguồn nước chỉnh phục vụ cho canh tác nông nghiệp trong lưu vực. Mặc dit nước sông rat 6 nhiễm nhưng vẫn được bơm vào. hệ thống mong phục vụ tưới tiêu. Việ sản xuất nông nghiệp có thời vụ va không sử dung nước iên tye, Nước từ sông Cầu Bây được dùng để tưới iêu sau đổ lại thoát v sing mang theo chất thải trong sin xuất nông nghiệp như dư lượng thuốc.
trữ sâu, phân bón, đất edt; nhưng đồng thời cũng giảm một phan chất 6 nhiễm do ngắm qua dit, giảm lưu lượng do thắm, bay hoi trong quá tỉnh tưới tiêu “Thoát nước lưu vực sông Cầu Bây thực hiện thông qua các cổng, rãnh, kênh, mương thủy lợi (mạng cấp 1). Việc thu gom nước mưa, nước thai được thực hiện thông qua các. mương, đường cổng, rãnh trên đường phổ, ngõ xóm (mạng cp 2, 3). Hệ thống thoát nước của khu vực hiện nay được tô chức như Error! Reference source not found.
Mang cắp 1 là hệ thống cổng chung. Mang cấp 2, 3 đối với khu dân cư đô thị cũ, ng xóm là cống chung: nước mưa và nước thi sinh boạt nước thải chăn nuôi hộ gia đình, ling nghề hộ gia đình thoát chung vào một hệ thống cổng thoát. Theo quy định, các khu đổ thị mới phải xử lý nước thải đạt QCCP trước khi dd nổi vào hệ thẳng thoát nước thành phố. Nước thải đã xử lý va nước mưa trong các khu đô thị mới đã được tách riêng.
nhưng lại được du nối vào hệ thống cổng chung có sẵn trên đường lớn, hoặc ao h và cuối cùng thông qua mạng cấp 1 để dẫn về sông Cầu Bây. Theo QHTNHN 2013, sẽ xây dmg các gi ự tích (CSO), Hình 1-2) để đầu sc cổng hiện trang vio hệ thông cổng bao dọc sông Cầu Bây, dẫn nước thải về Nhà máy XLNT để xử lý [2]. Nước sau xử lý số thé bổ cập lại cho sông Cầu Bay hoặc xa vào các nguồn tiếp nhận khác Như vậy, lúc thời tiết không mưa thì nguồn nước chảy vào sông Cầu Bay chủ yếu là nước thải của lưu vực sông Cẩu Bây, tương tự như sông Tô Lịch, Kim Ngưu, (Ha Nội: kênh Nhiều Lộc ~ Thị Nghề, Đôi ~ Tẻ, Tham Lương ~ Bến Cát, Tân Héa — Lò Gốm (thành phổ Hồ Chí Minh); sông Cheonggyecheon (Hin Quốc) trước khi cải tạo năm 2005 [3], [4], sông Singapore trước khi cái tạo năm 1986 [5]đều là các sông tiếp nhận nước thải của đô thị Cc nghiên cứu về nước và rằm tích sông Cầu Đây từ trước đến nay mới chỉ dim li ở mức khảo sit, đánh giá mức độ một sổ thông số, chủ yếu trong nước sông như pH, DO. TSS, COD, BODs, NO;, NOy, PO.*, NHa*, chất hoạt động bé mat, dầu mỡ, CoHsOH, E.
Các thông số nay vượt giá trị giới hạn tối đa quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, TSS vượt đến 17 lần, NHi*-N vượi đến 18 in so với QCVN 14:2008/BTNMT [6], [7]. EJPBDE trong trim tích sông i Bây cũng đã được nghiên cứu cho thấy có sự phân bd rộng, nông độ cao tại các điểm gin các khu công nghiệp [8]. Chưa có nghiên cứu nào về nước thai lưu vực sông Cầu Bay cũng: như PCB trong nước và rằm tch sông Câu Bây, Theo khảo sát, có 9 kênh, mương chính thoát nước thải sinh hoạt, công nghiệp, rỉ rác, nước thoát của canh tác nông nghiệp chảy vào sông Cầu Bay ti các cửa xã được kỹ hiệu M1 + Mỹ (toa độ, mô ti nguồn xa, hình ảnh khảo sát như Hình 1-1, Error! Reference ‘ource not found.) MLO là điểm cudi sông Cầu Bây trước khi chảy vào hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải: MII là vị trí trên hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hai nơi tiếp nhận nước từ sông Cầu Bây (MI + M11 theo thứ tự từ thượng nguồn đến hạ nguồn). sit cho thấy nước thải ti các cửa xã M1 = M9 có mâu đen, mỗi hôi, kể cả cửa xã cố nước thải của KCN Bai Tư, Sai Đồng.
Doe sông nói chung đều có màu đen, mùi hôi chứng tổ đồng sông bị ô nhiễm nặng không chỉ ở cửa xà. Sự tương phản giữa mẫu den của nước sông Cầu Bay và hoi ving của nước hệ hồng thủy nông Bắc Hưng Hải nhìn thấy rõ tại khu vực nơi nước sông. iu Bay hỏa với nước hệ thống thủy nông Bắc Hưng. Bản đồ lưu vực sông Cầu Bây " 1.
Lịch sử hệ thống thoát nước, thu gom nước thải đô thị 12. Ở các nước trên thégiới Hệ thống thoát nước đô thị sớm nhất biết đến được xây dựng bởi nén van minh Ai Cập, và nền văn minh Lưỡng Hà từ thể kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Hệ thông thoát nước giai đoạn này được xây dựng để thoát nước mưa, nhưng cũng là nơi thoát chất thải sinh hoại. Trong thé kỹ thứ 2 trước Công nguyên, nén văn minh Minoan phát triển hệ thông thoát nước trên đảo Cret (thuộc Hy Lạp ngày nay) và phát triển hệ thông cổng thoát ring đầu tiên trên thể giới, Hệ 1g công dưới đường phố bắt đầu được xây dựng bởi người Hy Lap vio giữa nhưng năm 1.100 và 700 trước Công nguyên.
Hệ thống của người Hy Lạp được người La Mã phát triển hơn bằng thêm các hỗ ga nắp bằng đá có quai đồng có thể mở ra [9] Hệ thông thoát nước đô thị ở các nước Châu Âu khác và Hoa Kỳ ban đầu cũng chỉ để mục đích thoát nước mưa, trong khi phân từ thùng xi được thải bỏ như chất thải rắn “Thông thường, vig thải chất thải từ thủng xí chỉ đơn giản là ném qua cửa số và hết lên "garde Ieau”, dich ra có nghĩa là "edn thận nước rơi vào" [10]. Tại Luân Đôn, việc cắm. chất thải sinh hoạt cho vào hệ ống thoát nước thành phố có hiệu lực cho đến năm 1815; thành phố Boston (Hoa Kỷ) là cho đến năm 1833. Năm 1843, chỉnh quyển thành phố Hamburg (CHLB Đức) quy định bắt buộc phải đấu nỗi để thải chất thải sinh hoạt vào hệ thống thoát nước thành phổ [10].
Mor thay đổi lớn rong ngành cắp nước trong giai đoạn 1800 1865 là nước sinh hoạt được cắp từ nguồn cung cấp lên tục, và sự ra đời cia nhà vệ sinh dội nước vào giữa năm 1800 [11]. Đến năm 1880, khoảng một phần ba số hộ gia đình đô thị tại Hoa Ky có nhà vệ sinh xả nước [11]. Trong những năm 1800, các thành phố ở Tây Âu và Bắc Mỹ không sử dụng các bể phốt và hỗ xí mà xây dựng hệ thống cổng thoát nước cho việc loại bỏ và xử lý chất thải. Với việc đấu ndi nước vệ sinh từ các ngôi nhà với hệ thống công rãnh nước mưa hiện có thảnh một hệ thông hỗn hợp.