CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ SÂM NGỌC LINH 1. Nguồn gốc và lịch sử phát triển Sâm Ngọc Linh là một loài sâm đặc hữu của Việt Nam, chỉ sống trên vùng núi cao thuộc hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam. Hiện nay, sâm Ngọc Linh được cả thế giới biết đến bởi những đặc tính và thành phần vượt trội so với một số loài sâm nổi tiếng khác như sâm Triều Tiên (P.
Meyer), sâm Mỹ (P. quinqueflium), sâm tam thất (P. Chen),… [89] Sâm Ngọc Linh là một “phương thuốc giấu" của người dân tộc Xê Đăng sống dưới chân núi Ngọc Linh chỉ mật truyền dùng để chữa trị cho dân làng tránh khỏi bệnh tật nơi rừng sâu, núi hiểm; nhưng đến những năm kháng chiến chống Pháp, bí mật về cây "thuốc giấu" bắt đầu được hé lộ. Khi bí mật này được mọi người biết tới, cây sâm quý này đã bị khai thác ồ ạt và dẫn đến nguy cơ gần như là tuyệt chủng [12][13].
Năm 1973, đoàn điều tra dược liệu Ban Dân Y khu 5 do dược sỹ Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang hướng dẫn đã phát hiện được một loài nhân sâm hiếm mọc thành quần thể ở độ cao 1800 m tại vùng Đắc Lây, huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum và đặt tên là “sâm Đốt trúc” với tên khoa học sơ bộ xác định là P., họ nhân sâm (Araliaceae) [7]. Năm 1985, trên cơ sở tiêu bản mẫu chuẩn (Typus) và các số liệu thực vật học của Trung tâm sâm Việt Nam cung cấp, Hà Thị Dung và Grushvisky (1985) đã xác định và chính thức công bố tên khoa học cây sâm Đốt trúc là Panax vietnamensis Ha et Grushv., được công bố tại Viện Thực vật Kamarov (Liên Xô cũ) [8]. Ngoài ra, loài sâm này còn được gọi là sâm Ngọc Linh, sâm Khu năm (K5), thuốc giấu Xê Đăng hay sâm Việt Nam và có tên quốc tế là Vietnamese ginseng [13]. Đây là một loài sâm mới của thế giới thuộc chi Panax L.
với những đặc điểm riêng biệt về hoa, quả và hạt [8]. Năm 1974, qua báo cáo của dược sỹ Nguyễn Thới Nhâm về kết quả phân tích sơ bộ thành phần hóa học cây sâm K5 so với cây sâm Triều Tiên và sâm Tam thất. Khu ủy khu 5 đã cho bảo vệ chặt chẽ vùng sâm này và cũng từ đấy sâm K5 được sử dụng để chữa bệnh cho các thương bệnh binh, cán bộ và nhân dân [8][13]. Đặc điểm hình thái và sinh trưởng Hình 1.
Cây sâm Ngọc Linh sinh trưởng và phát triển từ nguồn cây giống in vitro của Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên [13]. Sâm Ngọc Linh trưởng thành có dạng thân khí sinh thẳng đứng, màu lục hoặc hơi tím, nhỏ với đường kính thân khoảng 4-8 cm, thường tàn lụi hàng năm. Phần thân rễ có đường kính 1-2 cm, mọc bò ngang như củ hoàng tinh trên hoặc dưới mặt đất khoảng 1-3 cm, mang nhiều rễ nhánh và củ (Hình 1. Các thân mang lá và tương ứng với mỗi thân mang lá là một đốt dài khoảng 0,5-0,7 cm.
Cây chỉ có một lá duy nhất suốt năm thứ 1 đến năm thứ 3 và chỉ từ năm thứ 4 trở đi mới mọc thêm 2 đến 3 lá. Trên đỉnh của thân mang lá kép hình chân vịt mọc vòng với 3-5 nhánh lá. Cuống lá kép, dài khoảng 6-12 mm, mang 5 lá chét, lá chét ở chính giữa lớn hơn cả với độ dài 12-15 cm, rộng 3-4 cm. Lá chét có phiến hình 6 bầu dục, mép khía răng cưa, chóp nhọn, lá có lông ở cả hai mặt.
Cây 4-5 năm tuổi có hoa hình tán đơn mọc dưới các lá thẳng với thân, cuống tán hoa dài 10-20 cm có thể kèm 1-4 tán phụ hay một hoa riêng lẻ ở phía dưới tán chính. Mỗi tán có 60- 100 hoa, cuống hoa ngắn 1-1,5 cm, lá đài, cánh hoa màu vàng nhạt, nhị, bầu 1 ô với 1 vòi nhụy (Hình 1. Quả mọc tập trung ở trung tâm của tán lá, dài độ 0,8-1 cm và rộng khoảng 0,5-0,6 cm, sau hai tháng bắt đầu chuyển từ màu xanh đến xanh thẫm, vàng lục, khi chín ngả sang màu đỏ cam với một chấm đen không đều ở đỉnh quả (Hình 1. Mỗi quả chứa một hạt, một số quả chứa 2 hạt và số quả trên cây bình quân khoảng 10 đến 30 quả [8].
Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là thân rễ, củ, ngoài ra có thể dùng lá và rễ con. Vào đầu tháng 1 hàng năm, sâm xuất hiện chồi mới sau mùa ngủ đông, thân khí sinh lớn dần lên thành cây trưởng thành có 1 tán hoa [89]. Từ tháng 4 đến tháng 6, cây nở hoa và kết quả. Tháng 7 quả bắt đầu chín và kéo dài đến tháng 9.
Cuối tháng 10, phần thân khí sinh tàn lụi dần, lá rụng, để lại một vết sẹo ở đầu củ và cây bắt đầu giai đoạn ngủ đông đến hết tháng 12. Dựa vào số lượng vết sẹo trên đầu củ, người ta có thể nhận biết độ tuổi của cây. Sau 3 năm đầu, cây mới rụng lá và để lại vết sẹo đầu tiên [89]. Khi thu hoạch, nên thu nhận các củ từ 3 tuổi trở lên, tốt nhất là trên 5 tuổi.
Mùa đông cũng là mùa thu hoạch tốt nhất phần thân rễ của sâm [8]. Đặc điểm phân bố Đến nay, vùng núi Ngọc Linh thuộc hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum ở miền trung của Việt Nam, tại 1415’ vĩ độ Bắc, là nơi duy nhất được phát hiện có sâm Ngọc Linh. Đây cũng là giới hạn xa nhất về phía Nam của bản đồ phân bố chi nhân sâm trên thế giới [13]. Sâm Ngọc Linh có phân bố tự nhiên ở các huyện Tu Mơ Rông, huyện Đăk Glei (tỉnh Kom Tum), Huyện Nam Trà My, huyện Phước Sơn (tỉnh Quảng Nam), trên vùng núi Ngọc Linh.
Ngọc Linh là dãy núi cao thứ hai ở Việt Nam, có tọa độ địa lý từ 1075’-1087’ kinh tuyến Đông và từ 150’-151’ vĩ tuyến Bắc, đỉnh cao nhất là Ngọc Linh cao 2598 m. Những điểm vốn trước đây có sâm Ngọc Linh mọc tự nhiên từ độ cao khoảng 1500-2200 m, chủ yếu tập trung ở 1800-2000 m, thuộc địa bàn của hai huyện Đắk Tô (Kon Tum) và Nam Trà My (Quảng Nam) [13]; nhưng giới hạn cũng như phân bố của loài sâm này ở núi Ngọc 7 Linh đã có nhiều thay đổi. Loài này đã trở nên cực hiếm ngoài tự nhiên, do tình trạng khai thác kiệt quệ trong nhiều năm cộng với việc đốt nương làm rẫy nên diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp [13]. Hiện tại, sâm Ngọc Linh đã được đưa vào danh mục sách đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) năm 2003 và danh sách các loài hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại (nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm), theo sách đỏ Việt Nam (2007), sâm Ngọc Linh được xếp vào hạng EN A1a, c, d, B1 + 2b, c, e [3].
Đến nay, sâm Ngọc Linh chỉ còn tập trung tại 2 điểm bảo tồn là Chốt Sâm (xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum) và Trạm Dược liệu Trà Linh (xã Trà Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam) với tổng diện tích trồng khoảng 10 hecta [2][8]. Đặc điểm đa dạng di truyền Ở Sâm Ngọc Linh, trình tự vùng ITS-rDNA đích mới được xác định có chiều dài khoảng gần 600 bp (đã được đăng ký trên Genbank với mã hiệu JF772113) [19][20]. Kết quả đối chiếu trình tự nucleotide vùng gen của nghiên cứu này cho thấy biến dị giữa P. vietnamensis và các loài thuộc chi được so sánh khá cao, chỉ số đa dạng di truyền dựa trên trình tự nucleotide tương đồng đến 0,0436 bp.
So với các loài thuộc chi nhân sâm có trình tự tương đồng nhất trên Genbank, P. vietnamensis có ít nhất 14 nucleotide sai khác so với P. ginseng và nhiều nhất là 25 nucleotide (P. stipuleanatus) và đặc trưng bởi 6 nucleotide (autapomorphies) [12].
Từ nghiên cứu cây phát sinh các loài sâm cho thấy, loài P. vietnamensis có tổ tiên chung và quan hệ khá gần gũi với một số loài trong chi nhân sâm như P. japonicus, sâm Lào (Panax sp.), sâm Lai Châu [19]. Cây phát sinh cũng chỉ ra một số loài khác trong chi nhân sâm có sự khác biệt di truyền lớn với P.
Tác dụng dược lý Sâm Ngọc Linh là một cây thuốc quý dùng để chữa nhiều chứng bệnh và tăng cường sức khỏe: cầm máu, chữa lành vết thương, làm thuốc bổ, trị sốt rét, đau bụng, chống trầm cảm, kích thích hệ miễn dịch, chống lão hóa, phòng chống ung thư, bảo vệ tế bào gan, tăng thị lực, sức đề kháng, nâng cao huyết áp ở người bị huyết áp 8 thấp,. Những tác dụng dược lý đang được quan tâm trong bối cảnh xã hội công nghiệp ngày nay như: chống stress (antistress), chống lão hóa (antioxidant), phòng chống ung thư (antitumor) đã được chứng minh có ở sâm Ngọc Linh, mở ra một triển vọng áp dụng thực tiễn trên lâm sàng rất khả quan [4]. Ngoài ba tác dụng chính của họ nhân sâm là bồi bổ cơ thể để gia tăng chuyển hóa các chất; tăng lực giúp chống nhược sức và tăng sức đề kháng không đặc hiệu của cơ thể nên tăng khả năng sinh thích nghi (adaptogen và antistress) [13]. Sâm Ngọc Linh còn có tác dụng tăng cường hoạt động não bộ và sinh dục, phòng chống phóng xạ, kháng viêm, giảm đau, hiệp lực với thuốc hạ huyết áp, đường huyết và hạ cholesterol (khi dùng bột mô sẹo).
Sâm Ngọc Linh còn có tác dụng kháng khuẩn (đặc biệt trên các chủng thuộc chi Streptococcus gây viêm họng), bảo vệ tế bào gan và gia tăng hàm lượng cytochrome-P450 trong vi thể gan. Củ sâm Ngọc Linh liều 100 mg/kg làm tăng sức chịu đựng của chuột đối với nhiệt độ cao (37-42C) hay nhiệt độ thấp (-5C) nên kéo dài thời gian sống thêm của chuột. Khi thí nghiệm in vitro dùng dịch nổi của mô não, gan và phân đoạn vi thể gan của chuột nhắt trắng cho thấy, liều 0,05-0,5 mg/kg củ sâm giúp chống oxy hóa, ức chế sự hình thành malonyl dialdehyde (sản phẩm của quá trình oxy hóa lipid màng sinh học). Thí nghiệm in vitro và in vivo ở chuột nhắt trắng uống liều 500 mg/kg bột chiết sâm còn cho thấy, sâm Ngọc Linh làm tăng chỉ số thực bào.
Các saponin toàn phần của củ sâm còn kích thích miễn dịch không đặc hiệu, chống oxy hóa và bảo vệ gan, phục hồi số lượng hồng cầu [4]. Hơn nữa, Konoshima và cs (1999) đã chứng minh MR2 của sâm này còn có tác động kích hoạt tác dụng chống ung thư in vitro và in vivo [82]. Điều này cho thấy, khả năng ứng dụng thực tiễn rất cao của sâm Ngọc Linh.