phần mở đầu, kết luận, phụ lục; danh mục các biểu, bảng và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hƣởng đến kiểm soát thu BHXH trong các đơn vị BHXH. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 4: Kết luận và hàm ý chính sách e 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KIỂM SOÁT THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG CÁC ĐƠN VỊ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ KIỂM SOÁT THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Bảo hiểm xã hội 1.
Đặc điểm và vai trò của bảo hiểm xã hội a. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Do đó BHXH có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Bảo hiểm cho ngƣời lao động trong và sau quá trình lao động. Khi ngƣời lao động có tham gia đóng BHXH thì sẽ đƣợc bảo hiểm trong quá trình lao động cũng nhƣ sau quá trình lao động.
- Thay thế thu nhập bị mất hay bị giảm nhằm ổn định cuộc sống cho ngƣời lao động và gia đình. - Ngƣời lao động muốn đƣợc quyền hƣởng trợ cấp BHXH phải có nghĩa vụ đóng BHXH. Ngƣời chủ sử dụng lao động cũng phải có nghĩa vụ đóng BHXH cho ngƣời lao động mà mình thuê mƣớn. - Quỹ BHXH dùng để chi trả các trợ cấp khi có các nhu cầu phát sinh về BHXH.
Với những đặc điểm đó chúng ta thấy BHXH có những tính chất nhƣ sau: e 8 - Tính tất yếu khách quan: là những đặc điểm bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài và không phụ thuộc vào suy nghĩ của con ngƣời. Sở dĩ BHXH mang tính tất yếu khách quan vì nó là nhu cầu thiết yếu của ngƣời lao động (nhu cầu an toàn trong tháp nhu cầu của Maslow). Nhu cầu an toàn là nhu cầu đƣợc BHXH. - Tính kinh tế: hàng tháng ngƣời lao động chỉ đóng một khoản phí nhỏ, nhƣ vậy có thể đó là những khoản tiết kiệm nhƣng khi có rủi ro xảy ra ngƣời lao động này có thể nhận đƣợc các khoản trợ cấp từ BHXH tùy từng trƣờng hợp, thậm chí cả đời.
Quỹ BHXH nhàn rỗi là một kênh tài chính quan trọng để phát triển quốc gia: đối với các quốc gia có hệ thống BHXH phát triển tốt, cân đối thu chi tài chính hiệu quả thì nguồn quỹ BHXH nhàn rỗi là một kênh tài chính quan trọng góp phần phát triển đất nƣớc. Khi nguồn quỹ nhàn rỗi đƣợc đầu tƣ hiệu quả để phát triển đất nƣớc thì phần lãi từ sự đầu tƣ này sẽ góp phần cho quỹ BHXH không ngừng tăng lên, và nhƣ vậy trợ cấp BHXH cũng tăng lên. - Tính xã hội: các khoản trợ cấp về BHXH là một khoản tiền thay thế cho thu nhập bị mất hay bị giảm khi ngƣời lao động gặp những rủi ro hoặc ốm đau, thai sản hay hƣu trí… thì sẽ giúp cho bản thân ngƣời lao động và gia đình của họ đƣợc ổn định đời sống. Nếu mỗi ngƣời lao động, mỗi gia đình có cuộc sống ổn định thì cũng có nghĩa là vấn đề an sinh xã hội đƣợc thiết lập.
- Tính dịch vụ (chính là tính trung gian): Cơ quan BHXH sẽ: + Thu phí BHXH của các đối tƣợng: ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. + Bảo quản quỹ tài chính BHXH. + Chi trả các khoản trợ cấp cho ngƣời lao động khi có các rủi ro, tình huống xảy ra [7], [14]. Vai trò của bảo hiểm xã hội BHXH với vai trò chủ yếu là ổn định đời sống của ngƣời lao động.
Bản thân ngƣời lao động khi gặp những rủi ro thì có thể họ sẽ không tiếp tục lao động và không nhận tiền lƣơng, tiền công. Do vậy khoản trợ cấp BHXH nhằm thay thế một phần thu nhập bị mất hay bị giảm giúp ngƣời lao động ổn định cuộc sống. Giúp cho ngƣời lao động có thể có những khoản chi phí để giúp cho cuộc sống tốt hơn BHXH là công cụ phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngƣời lao động tham gia BHXH. Những đối tƣợng đang tham gia BHXH có thể không phải là những đối tƣợng đang đƣợc hƣởng chi trả của BHXH mà có thể họ sẽ đƣợc nhận khi có vấn đề phát sinh xảy ra hoặc khi BHXH là thuật chia sẻ rủi ro lấy số đông bù cho số ít.
Khi một ngƣời gặp rủi ro nhƣ thai sản, ốm đau, tai nạn hay thậm chí tử vong sẽ đƣợc thanh toán khoản tiền từ quỹ BHXH theo quy định. Thực hiện theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít sẽ làm cho gánh nặng kinh tế khi những rủi ro xảy ra đƣợc san sẻ. Bên cạnh đó, BHXH cũng có vai trò động viên khuyến khích ngƣời lao động ở khía cạnh vật chất và giúp tái sản xuất sức lao động. Khi có rủi ro xảy ra những khoản chi trả từ BHXH sẽ giúp cho ngƣời lao động yên tâm hơn và không lo lắng về gánh nặng kinh tế vì nó đã đƣợc chia sẻ [7], [13], [14].
Nội dung bảo hiểm xã hội * Đối tượng thu bảo hiểm xã hội Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nƣớc mà đối tƣợng của BHXH có thể là tiền lƣơng, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc toàn bộ thu nhập của ngƣời lao động (NLĐ). Tuy nhiên, đối tƣợng thu BHXH phải mang tính ổn định để thuận tiện cho công tác quản lý BHXH. Ở e 10 những nƣớc có nền kinh tế phát triển, việc ứng dụng công nghệ thông tin phổ biến trong quản lý thì đối tƣợng thu BHXH là mức thu nhập của NLĐ. * Căn cứ và phương pháp tính Thứ nhất, đối với BHXH bắt buộc: - Tiền lƣơng do Nhà nƣớc quy định: Mức đóng là tỷ lệ 32% trên mức tiền lƣơng theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vƣợt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có).
Tiền lƣơng này tính trên mức lƣơng cơ sở. - Tiền lƣơng do đơn vị sử dụng lao động quyết định. + Mức đóng là tỷ lệ 32% trên mức tiền lƣơng ghi trong hợp đồng lao động. Từ ngày 01/01/2016, tiền lƣơng tháng đóng BHXH bắt buộc bao gồm: Mức lƣơng và phụ cấp.1: Qui định tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc giai đoạn 2014 - 2018 Đơn vị: % 2017 Tiêu chí 2014 2015 2016 2018 Tháng 01- 06 Tháng 07 - 12 BHXH 24 26 26 26 25 25 BHYT 4,5 4,5 4,5 4,5 4,5 4.5 BHTN 2 2 2 2 2 2 BHTN LĐ -BNN 0,5 0.5 Tổng 30,5 32,5 32,5 32,5 32,0 32,0 (Nguồn: Kết quả tổng hợp của tác giả) Từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lƣơng tháng đóng BHXH bắt buộc bao gồm: Mức lƣơng, phụ cấp lƣơng và các khoản bổ sung khác.
+ Mức tiền lƣơng tháng thấp nhất để tính mức đóng BHXH, BHYT, BHTN là mức lƣơng tối thiểu vùng. e 11 + Mức lƣơng cao nhất để tham gia BHXH, BHYT, BHTN: BHXH, bảo hiểm y tế(BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) không đƣợc cao hơn 20 lần mức lƣơng cơ sở. Hai, đối với BHXH tự nguyện: Mức đóng BHXH tự nguyện của NLĐ hàng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do NLĐ lựa chọn. Trong đó, mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức cơ sở.
* Phương thức thu BHXH - Thu trực tiếp từ NLĐ: Đƣợc áp dụng ở những nƣớc sử dụng hệ thống tài khoản cá nhân. Thông qua phƣơng thức này NLĐ đăng ký với cơ quan BHXH, hàng tháng nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH bằng hình thức đăng ký chuyển khoản tự động, tài khoản sẽ tự động in ra một bảng thông báo tới NLĐ về số tiền đã đóng, số tiền nợ. Nếu có vƣớng mắc trong quá trình chuyển khoản, tài khoản sẽ tự động gửi thông báo tới cơ quan BHXH, ngay lập tức sẽ có bộ phận kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện phát hiện những sai lệch hệ thống. - Thu gián tiếp qua đại lý (qua ngƣời sử dụng lao động): Ngƣời sử dụng lao động sẽ thu BHXH từ NLĐ sau đó chuyển toàn bộ đóng góp BHXH của cả NLĐ và ngƣời sử dụng lao động cho cơ quan BHXH.
Đây là phƣơng thức phổ biến nhất, đƣợc áp dụng với các trƣờng hợp có đối tƣợng tham gia BHXH là ngƣời làm công ăn lƣơng. Theo đó, hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, ngƣời sử dụng lao động đóng BHXH trên quỹ tiền lƣơng, tiền công của những NLĐ tham gia BHXH, đồng thời trích từ tiền lƣơng, tiền công tháng của từng NLĐ theo mức quy định để đóng cùng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nƣớc. e 12 Hàng tháng, ngƣời sử dụng lao động đƣợc giữ lại một tỷ lệ % (trƣớc 2016: 2% theo Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/06/2006) số phải nộp để chi trả kịp thời 02 chế độ ốm đau, thai sản cho NLĐ. Hàng quý, thực hiện quyết toán, trƣờng hợp tổng số tiền quyết toán nhỏ hơn số tiền giữ lại thì ngƣời sử dụng lao động phải nộp số chênh lệch này vào tháng đầu quý sau [9], [11], [13].
Kiểm soát thu bảo hiểm xã hội 1. Sự cần thiết phải kiểm soát thu bảo hiểm xã hội Nguồn thu BHXH là một trong những nguồn thu quan trọng đối với NSNN. Thế nhƣng, trong thời gian qua, tình trạng gian lận, trốn đóng BXHX diễn ra khá phổ biến. Mặt khác, trong bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn, việc kinh doanh của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng thuận lợi.
Nếu cơ quan BHXH quá nguyên tắc trong việc kiểm soát BHXH thì có thể gây ra những phản ứng tiêu cực cho doanh nghiệp nhƣ chán nản, ác cảm với Nhà nƣớc nói chung và BHXH nói riêng. Do vậy việc kiểm soát thu BHXH là yêu cầu cần thiết đối với cơ quan BHXH trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Nhà nƣớc giao với mục đích ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm về B H X H , góp phần ổn định nguồn thu NSNN, giúp Nhà nƣớc điều tiết kinh tế vĩ mô phục vụ mục tiêu tăng trƣởng của đất nƣớc hay phân phối thu nhập nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các tầng lớp dân cƣ trong xã hội.