chương 1 đã nêu lên lý do chọn đề tài nghiên cứu, đồng thời cũng đưa tổng quan các đề tài nghiên cứu trước đây. Cũng như đưa ra được mục tiêu nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu thực hiện trong bài báo cáo, nêu lên đóng góp mới của đề tài, xác định được đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Và giới thiệu kết cấu của đề tài là kết cấu 5 chương. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÁ NHÂN VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CHO VAY CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Lý luận về hoạt động cho vay cá nhân của Ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm về hoạt động cho vay cá nhân.
Khái niệm cho vay : Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do quốc hội ban hành qui định : „„Cho vay được là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.“ [20] Từ khái niệm chung về hoạt động cho vay ta có thể hiểu cho vay KHCN là việc tổ chức tín dụng chuyển giao cho các cá nhân, hộ gia đình, tiểu thương một số tiền nhất định để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mua sắm như mua nhà, mua xe, đồ dùng gia đình, khám chữa bệnh, du học. hoặc để sản xuất kinh doanh trong khoảng thời gian cụ thể với lãi suất, phương thức trả lãi. thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và cá nhân vay.2 Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân. Khách hàng vay : cá nhân, hộ gia đình, tiểu thương.
Mục đích vay : chủ yếu là đáp ứng nhu cầu cá nhân như tiêu dùng, mua nhà, mua xe, du học, khám chữa bệnh, hoặc kinh doanh nhưng với qui mô nhỏ. Quy mô khoản vay : Mỗi khoản vay thường có qui mô tương đối nhỏ so với các khoản cho vay doanh nghiệp. Cho vay bất động sản có thể có giá trị lớn hơn, nhưng giá trị so sánh vẫn nhỏ hơn các món vay khác tại Ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu do khách hàng chỉ vay khi đã có một lượng vốn tương đối, chỉ vay ngân hàng để bổ sung số tiền còn thiếu (doanh nghiệp có thể vay toàn bộ số tiền cần thiết cho dự án, phương án kinh doanh).
Mặt khác, do cho vay KHCN có độ rủi ro cao hơn nên NH cũng thường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay, căn cứ vào khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng [1] Số lƣợng khoản vay : Mặc dù quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay là khá lớn, do khách hàng vay là toàn bộ các cá nhân có nhu cầu trong xã hội. 7 Thời hạn vay : đối với các khách hàng vay với mục đích kinh doanh thì thời hạn vay thường là ngắn hạn, nhưng vay với mục đích tiêu dùng thì chủ yếu là trung và dài hạn. Độ rủi ro: Các khoản cho vay KHCN có độ rủi ro cao hơn so với cho vay các doanh nghiệp. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thường là :[1] Thông tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình thường khó đầy đủ và rõ ràng như thông tin về doanh nghiệp (công khai thông qua báo cáo tài chính), dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân xứng.
Các cá nhân có thể tìm cách trốn tránh không trả các khoản vay cho dù có khả năng thanh toán. Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của người vay. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng, NH sẽ gặp khó khăn trong thu hồi nợ. Cho vay KHCN có tính nhạy cảm theo chu kì kinh tế.
Khi nền kinh tế mở rộng, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay ngân hàng nhiều hơn, và khi nền kinh tế suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng thì họ sẽ hạn chế vay mượn ngân hàng. Cùng với đó lãi suất cho vay KHCN thường cố định trong suốt thời gian vay chứ không biến đổi như cho vay doanh nghiệp, do đó nếu lãi suất huy động trên thị trường có thay đổi thì ngân hàng chịu nhiều rủi ro. Tài sản đảm bảo : Đối với khoản vay KHCN, NH thường yêu cầu KH có tài sản đảm bảo vì các khoản vay này thường có độ rủi ro cao. Thông thường các tài sản đảm bảo lại chính là các tài sản mà khách hàng vay Ngân hàng để mua như nhà cửa, xe cộ.
Lãi suất cho vay : thường cao hơn so với khoản vay của doanh nghiệp. Bởi vì chi phí và độ rủi ro của khoản vay KHCN cao do đó lãi suất cho vay cũng phải cao để bù đắp được các rủi ro xảy ra cũng như chi phí sử dụng vốn và lãi suất cho vay thường cố định trong suốt khoảng thời vay. Chi phí của hoạt động cho vay KHCN : Do các khoản vay KHCN có số lượng món vay nhiều, khách hàng đông và đa dạng nhưng mỗi khoản vay số lượng lại nhỏ, ngân hàng phải huy động nhiều nhân lực cho công việc cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, quyết định cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối với khách hàng sau khi cho vay. Mặt khác, Ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để 8 quản lý các khoản cho vay cá nhân với số lượng lớn và các thông tin của cá nhân cũng khó tìm kiếm hơn các doanh nghiệp.
Tất cả những điều này khiến chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay cao hơn so với các loại hình cho vay khác.[1] Lợi nhuận của hoạt động cho vay KHCN : Đây là một trong những hoạt động tín dụng mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng. Xuất phát từ việc hoạt động cho vay này có độ rủi ro cao, chi phí nhiều mà các Ngân hàng định giá các khoản vay này ở mức cao, lãi suất cho vay cao đã giúp Ngân hàng thu được nhiều lợi nhuận hơn. Nói chung, không có sự phân biệt rõ ràng giữa cho vay giữa cá nhân và cho vay các tổ chức kinh tế khách hàng lớn. Tuy nhiên nếu dựa theo mục tiêu của các NHTM là quản lý tốt hơn cho các khoản vay thì ta có thể căn cứ vào các đặc điểm của hoạt động cho vay KHCN để đưa ra một số so sánh sự khác biệt.1 : Sự khác nhau giữa cho vay cá nhân và tổ chức.
Đặc điểm Cá nhân Tổ chức, doanh nghiệp Bổ sung vốn lưu động, mua Mục đích vay Chủ yếu là tiêu dùng sắm tài sản cố định Người đại diện hợp pháp Quan hệ với khách hàng Trực tiếp với cá nhân vay của tổ chức Thông tin khách hàng Khó xác định Công khai Đơn giản hơn, chủ yếu là Phức tạp hơn, phân tích các Phân tích tín dụng phân tích thông tin cá nhân tỷ số tài chinh. Lớn, đôi khi lên tới vài Qui mô khoản vay Nhỏ trăm tỷ đồng Số lƣợng khoản vay Rất nhiều Không lớn Thời hạn vay Chủ yếu là trung và dài hạn Ngắn hạn Tính ổn định và thƣờng Không thường xuyên, Ổn định và thường xuyên xuyên nhu cầu tức thời theo chu kỳ kinh doanh Lãi suất cho vay Cao hơn Thấp hơn Mức độ rủi ro Cao hơn Thấp hơn Chi phí quản lý khoản Nhiều hơn Ít hơn vay (Nguồn : tổng hợp của tác giả) 2.3 Phân loại cho vay khách hàng cá nhân 2.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay 9 - Cho vay ngắn hạn : Thời gian cho vay dưới 12 tháng, khách hàng vay với mục đích chi tiêu ngắn hạn như mua sắm các vật dụng trong gia đình, khám chữa bệnh.hoặc bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong kinh doanh. - Cho vay trung và dài hạn : Loại cho vay này có thời hạn dài hơn 1 năm. Đối với các tổ chức kinh tế thường vay trung dài hạn để đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng.Còn với cá nhân vay trung và dài hạn thường là mua sắm các loại tài sản có giá trị lớn như xe hơi, nhà cửa,.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn - Cho vay sản xuất kinh doanh : là loại cho vay nhằm bổ sung vốn thiếu hụt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Khách hàng vay là những cá nhân hay hộ gia đình sản xuất kinh doanh cá thể với quy mô nhỏ [3](trang 763) - Cho vay tiêu dùng : là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ. Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch. cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng.[2] Khi nền kinh tế phát triển dư nợ cho vay tiêu dùng thường chiếm một tỷ trọng cao trong hoạt động cho vay KHCN vì nhu cầu chi tiêu của các cá nhân cũng tăng lên.3 Căn cứ vào hình thức đảm bảo - Cho vay có tài sản đảm bảo : Khách hàng có thể bảo đảm bằng nhiều loại tài sản khác nhau, có thể bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu của mình hay hình thành từ chính vốn vay của ngân hàng .[2] - Cho vay không có tài sản đảm bảo : Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.[3](trang 178) Ngoài ra đối với KHCN, các NHTM còn cho vay thấu chi và phát hành thẻ tín dụng : Thấu chi : là nghiệp vụ cho phép một cá nhân rút tiền từ tài khoản vãng lai của mình vượt số dư có, tới một hạn mức đã thỏa thuận với NH.
Nghiệp vụ này đòi hỏi KH chỉ phải trả lãi số tiền mà họ sử dụng theo mức lãi thỏa thuận. Nó không qui định cho 10 các đối tượng là các mặt hàng cụ thể nào và không đòi hỏi phải thanh toán nhiều lần bằng nhau.[12] (trang 349) Thẻ tín dụng : là một loại thẻ thanh toán, theo đó NH cấp thẻ cho những KH có tài khoản tại NH đủ điều kiện ( giao dịch uy tín, gửi tiền tiết kiệm, nhận lương qua NH.), một hạn mức tín dụng cho phép KH dùng thẻ để thanh toán tiền mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại điểm chấp nhận thẻ hoặc rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động.